Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương
IGIP IGIP

Thứ hai, 21/09/2026 | 22:24

Tin tức - Sự kiện

Công nghệ chiến lược ngành Công Thương: Từ bài toán lớn đến sản phẩm làm chủ

21/09/2026
Với 3 bài toán lớn, 22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược và lộ trình triển khai đến năm 2030, Bộ Công Thương đang cụ thể hóa nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ giao, từng bước chuyển trọng tâm từ xác định công nghệ ưu tiên sang nghiên cứu, làm chủ, phát triển và thương mại hóa sản phẩm công nghệ chiến lược.

Ngày 4/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 2159/QĐ-BCT về việc ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 808/QĐ-TTg ngày 6/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược. Kế hoạch xác định rõ các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực Công Thương, cơ quan quản lý nhà nước chủ trì, đơn vị phối hợp, doanh nghiệp triển khai, thời gian thực hiện và mục tiêu, kết quả dự kiến.

Đây là bước cụ thể hóa ở cấp ngành sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định về danh mục công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược và giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.

công nghệ chiến lược

Quyết định 1493/QĐ-TTg là một mắt xích mới quan trọng trong bức tranh chính sách. Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó tối thiểu 5 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế; phát triển tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó tối thiểu 5 doanh nghiệp có sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Đây chính là bối cảnh rộng hơn để nhìn nhận Kế hoạch của Bộ Công Thương: từ mục tiêu quốc gia về công nghệ chiến lược, từng bộ, ngành phải chuyển hóa thành những bài toán, sản phẩm và nhiệm vụ cụ thể gắn với năng lực của mình.

công nghệ chiến lược

Kế hoạch của Bộ Công Thương không tiếp cận công nghệ chiến lược theo cách liệt kê đơn thuần các công nghệ cần nghiên cứu. Điểm cốt lõi là xác định những bài toán lớn của ngành, sau đó lựa chọn công nghệ và sản phẩm có khả năng giải quyết trực tiếp những bài toán đó.

Theo Kế hoạch, 3 bài toán lớn gồm: bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao, hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ; tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao; hiện đại hóa thương mại trong nước và nước ngoài bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.

Tương ứng với 3 bài toán, Kế hoạch cấu trúc thành 3 nhóm nhiệm vụ với 22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược, triển khai trong giai đoạn 2026-2030.

công nghệ chiến lược

Điều này cho thấy Kế hoạch được thiết kế theo hướng lấy kết quả đầu ra làm trọng tâm. Sản phẩm công nghệ chiến lược không chỉ phải phục vụ yêu cầu tự chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn phải có khả năng góp phần tạo tăng trưởng, nâng cao năng suất hoặc hình thành ngành công nghiệp mới.

công nghệ chiến lược

Một trong những điểm đáng chú ý nhất của Kế hoạch là sự thay đổi trong vai trò của doanh nghiệp.

Nếu Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua cơ chế, chính sách, đặt hàng và tiêu chuẩn, các cơ sở nghiên cứu, trường đại học tham gia nghiên cứu, phát triển và đào tạo nhân lực, thì doanh nghiệp được xác định là lực lượng dẫn dắt đầu tư phát triển và thương mại hóa sản phẩm công nghệ chiến lược.

Theo đó, các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp được yêu cầu chủ động nghiên cứu, xác định và đề xuất nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ, đề án, chương trình về nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng và phát triển công nghệ chiến lược gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp cũng có thể chủ trì tài trợ, đặt hàng nhiệm vụ bằng nguồn kinh phí hợp pháp của mình hoặc đề xuất nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định.

công nghệ chiến lược

Đặc biệt, Kế hoạch yêu cầu doanh nghiệp dẫn dắt đầu tư nghiên cứu, thử nghiệm, phát triển và thương mại hóa sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong khi đó, các viện, trường được định hướng phối hợp với doanh nghiệp theo mô hình “3 nhà”, gắn nghiên cứu với ứng dụng, thương mại hóa; đồng thời đào tạo nhân lực chất lượng cao và chuyển giao công nghệ.

Cách tổ chức này cũng tương đồng với định hướng của Chương trình quốc gia về công nghệ chiến lược theo Quyết định 1493/QĐ-TTg, trong đó nhấn mạnh hỗ trợ thương mại hóa, phát triển thị trường, hình thành chuỗi liên kết giữa doanh nghiệp đầu chuỗi với doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học.

Ở cấp địa phương, Sở Công Thương được giao chủ trì làm việc với doanh nghiệp để nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng, sản xuất, phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược phù hợp với thế mạnh của doanh nghiệp và địa phương; đồng thời tổng hợp đề xuất, tổ chức thực hiện và đôn đốc doanh nghiệp.

công nghệ chiến lược

Một điểm quan trọng là Kế hoạch không dừng ở việc xác định định hướng. Ngay sau khi Quyết định 2159/QĐ-BCT được ban hành, Bộ Công Thương đã chuyển sang bước tổ chức triển khai.

Ngày 15/9/2026, Bộ Công Thương ban hành Công văn số 7398/BCT-ĐCK, gửi Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp; các viện, trường đại học thuộc Bộ. Công văn yêu cầu các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị chủ động thực hiện các nhiệm vụ được giao chủ trì, phối hợp tại Quyết định 2159/QĐ-BCT.

công nghệ chiến lược

Các đơn vị đồng thời được yêu cầu căn cứ chức năng, nhiệm vụ và thực tế sản xuất, kinh doanh để chủ động nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng, phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, bảo đảm chất lượng, tiến độ, hiệu quả và đúng quy định.

Về đầu mối thực hiện, Cục Khoa học Công nghệ và Chuyển đổi số có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, đánh giá tình hình thực hiện; tổng hợp các đề xuất nhiệm vụ; theo dõi các đề xuất mới về công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược và định kỳ 6 tháng, hằng năm tổng hợp báo cáo Bộ về tình hình triển khai.

Kinh phí thực hiện Kế hoạch được huy động từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cùng các nguồn ngân sách nhà nước khác theo quy định; đồng thời có nguồn ngoài ngân sách, gồm kinh phí của tổ chức chủ trì, doanh nghiệp, cá nhân tham gia, nguồn hợp tác quốc tế và các nguồn tài chính hợp pháp khác.

công nghệ chiến lược

Có thể nói, Quyết định 2159/QĐ-BCT là bước chuyển quan trọng từ khung nhiệm vụ quốc gia sang chương trình hành động cụ thể của ngành Công Thương. 3 bài toán lớn được cụ thể hóa thành 22 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược; trách nhiệm được phân đến cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp, viện và trường; nguồn lực được mở rộng từ ngân sách nhà nước đến nguồn lực doanh nghiệp và hợp tác quốc tế.

Quan trọng hơn, Kế hoạch đặt ra một cách tiếp cận rõ ràng: không phát triển công nghệ chiến lược chỉ để có công nghệ, mà hướng tới sản phẩm có thị trường, doanh nghiệp làm chủ và khả năng thương mại hóa. Đây cũng là điểm kết nối trực tiếp giữa Kế hoạch của Bộ Công Thương với mục tiêu quốc gia đến năm 2030 về làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược và hình thành các doanh nghiệp có năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Bài: Hồ Nga
Thiết kế: Tiếu Mỹ
Theo Tạp chí Công Thương