Thứ hai, 21/09/2026 | 21:32
Việt Nam có 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ
Theo Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), cả nước hiện có gần 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, trong đó tập trung chủ yếu 5 lĩnh vực chính: cơ khí, ô tô, điện - điện tử, dệt may và công nghệ cao. Trong đó, gần 300 doanh nghiệp đã tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI lớn như Samsung, Honda, Toyota, LG...
Một số doanh nghiệp trong nước cũng đã làm chủ được các quy trình sản xuất, đặc biệt là quy trình sản xuất những sản phẩm, linh kiện có biên dạng phức tạp hay hàm lượng công nghệ cao như khuôn mẫu hay sản xuất các linh kiện về nhựa, kim loại có yêu cầu kỹ thuật cao. Nhưng tỷ lệ nội địa hóa của nhiều ngành đang còn rất thấp và chỉ dừng lại khoảng 30 - 40% chưa đạt được kỳ vọng của Chính phủ là 50-60%.

Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò trung tâm, là lực lượng nòng cốt trong sản xuất.
Chia sẻ về nội dung này, ông Chu Việt Cường, Phòng Công nghiệp hỗ trợ, Cục Công nghiệp cho hay: "Tỷ lệ nội địa hóa thấp, năng lực cạnh tranh về giá không cao, trình độ khoa học công nghệ ở mức trung bình, khả năng ứng dụng nghiên cứu phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ còn yếu".
Trong lĩnh vực cơ khí và ô tô, tỷ lệ nội địa hóa hiện đạt khoảng 30-40%, nhưng chủ yếu tập trung ở các chi tiết đơn giản. Đối với ngành điện tử, tỷ lệ này chỉ dao động 5-10%, bởi nhiều linh kiện quan trọng như chip, bo mạch, cảm biến… vẫn phải nhập khẩu. Riêng ngành dệt may, da giày, dù có kim ngạch xuất khẩu lớn - vẫn phụ thuộc phần lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, đặc biệt là vải, da thuộc và phụ kiện kỹ thuật....
Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp còn thấp, thiếu đầu tư cho đổi mới máy móc, thiết bị và nghiên cứu phát triển (R&D). Việc tiếp cận công nghệ tiên tiến từ các doanh nghiệp FDI cũng còn hạn chế, trong khi năng lực nhân lực kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu chuyển giao.
Đứng ở góc độ doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực nhựa kỹ thuật và bao bì, ông Nguyễn Đăng Khoa, Giám đốc Kinh doanh quốc tế Công ty CP Tân Phú Việt Nam, cho rằng cần chuẩn bị sớm. Những yêu cầu ngày càng cao từ các thị trường và nhà mua hàng lớn đang buộc doanh nghiệp phải chủ động nâng chuẩn.
Theo ông Nguyễn Đăng Khoa, trong 5-10 năm tới, doanh nghiệp nào chậm chuyển đổi xanh sẽ mất dần lợi thế cạnh tranh, bất kể giá bán thấp đến đâu. Vì vậy, đầu tư cần được thực hiện liên tục, từng bước, thay vì chờ tiêu chuẩn mới xuất hiện mới bắt đầu thay đổi. “Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, doanh nghiệp cần xây dựng nền tảng xanh một cách đồng bộ, từ nguyên liệu, quy trình sản xuất đến hệ thống quản lý và chứng nhận. Cách làm này giúp doanh nghiệp chủ động thích ứng với nhiều thị trường, thay vì phải chạy theo từng bộ tiêu chuẩn riêng”, ông Nguyễn Đăng Khoa nói.
Nêu vấn đề tại hội thảo: “Hệ sinh thái xanh cho công nghiệp hỗ trợ – Nền tảng thu hút FDI thế hệ mới” diễn ra ngày 17/9, bà Trần Thị Thu Hiền, Tổng giám đốc DTJ Industrial bày tỏ, Việt Nam không thể xây dựng một nền công nghiệp hỗ trợ chỉ bằng cách yêu cầu từng doanh nghiệp tự phát triển một cách riêng lẻ. Muốn hình thành một điểm đến đủ sức thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới, doanh nghiệp phải được đặt trong một mạng lưới phát triển mà ở đó mọi nguồn lực, từ năng lượng, nước, vật liệu, logistics, công nghệ, dữ liệu, đến tài chính và hạ tầng đều được chia sẻ và tối ưu. Hay nói cách khác, Việt Nam cần xây dựng được một "hệ sinh thái" cho phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Một cụm công nghiệp là nơi nhiều doanh nghiệp cùng đặt nhà máy, nhưng theo bà Trần Thị Thu Hiền, như vậy chưa đủ để tạo ra một hệ sinh thái. Một hệ sinh thái công nghiệp phải tạo được các dòng liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với hạ tầng và giữa sản xuất với các dịch vụ hỗ trợ.
Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ, phát triển theo chiều sâu
Quyết định phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 do Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký ban hành tháng 5/2026 đặt mục tiêu xây dựng ngành công nghiệp hỗ trợ hiện đại, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất và tăng cường năng lực tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.
Chiến lược mới định hình một bước chuyển căn bản trong phương thức hỗ trợ: Lấy tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe của thị trường và tỷ lệ nội địa hóa thực tế làm thước đo hành động. Khối doanh nghiệp nội địa được đặt vào vị trí trung tâm của hoạt động đổi mới sáng tạo, trong khi Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua việc minh bạch hóa thể chế và khơi thông các nguồn lực vĩ mô.
Bên cạnh đó, khi xu hướng đầu tư quốc tế đang có sự chuyển dịch từ việc tìm kiếm lợi thế về chi phí sang ưu tiên các địa điểm có khả năng cung cấp hạ tầng công nghiệp chất lượng cao, chuỗi cung ứng tại chỗ, nguồn nhân lực phù hợp, năng lực đổi mới công nghệ và điều kiện sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường quốc tế, việc liên kết để tạo thành một hệ sinh thái xanh cho công nghiệp hỗ trợ đang trở thành yêu cầu bức thiết cho phát triển.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Trương Thị Chí Bình - Tổng thư ký, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam khẳng định, giai đoạn 2026 - 2035, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam có thể bước sang giai đoạn phát triển mạnh, theo đó các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cần chuyển đổi mô hình phát triển. Thay vì tập trung vào sản xuất linh kiện rời cho một vài ngành, nếu muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, cần từng bước tham gia vào sản xuất cụm linh kiện, tiến tới lắp ráp theo mô hình OEM khi điều kiện cho phép.
“Quá trình này đòi hỏi đầu tư dài hạn, sự tích lũy về công nghệ, quản trị và thị trường, nhưng là con đường tất yếu để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Song song với đó là chiến lược đa dạng hóa khách hàng, lựa chọn phân khúc phù hợp với năng lực cốt lõi và chủ động mở rộng ra thị trường quốc tế. Sự sẵn sàng đầu tư, cả về tài chính lẫn nguồn lực quản trị sẽ quyết định khả năng tận dụng cơ hội trong giai đoạn tới”, TS. Trương Thị Chí Bình nhấn mạnh.
Phát triển công nghiệp hỗ trợ là một trong những giải pháp quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, gia tăng giá trị sản xuất trong nước và củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế. Đây cũng là nền tảng để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Trao đổi thêm với phóng viên Báo Công Thương, ông Phạm Văn Quân - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp nhìn nhận, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành công nghiệp then chốt như điện tử, cơ khí, ô tô, dệt may và da giày. Cùng với việc hoàn thiện cơ chế tạo thị trường cho sản phẩm sản xuất trong nước, cơ quan quản lý cũng định hướng xây dựng nền tảng dữ liệu số phục vụ quản lý chuỗi cung ứng. “Phát triển công nghiệp hỗ trợ là một trong những giải pháp quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, gia tăng giá trị sản xuất trong nước và củng cố năng lực tự chủ của nền kinh tế. Đây cũng là nền tảng để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới”- ông Phạm Văn Quân nói.
Trong tháng 9/2026, Bộ Công Thương đã hoàn thiện hồ sơ và tiến hành lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 205/2025/NĐ-CP).
Việt Nam cần xây dựng được một "hệ sinh thái" phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
21/09/2026