Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương
IGIP IGIP

Thứ hai, 01/06/2026 | 00:42

Tin tức - Sự kiện

Các cơ sở để xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm

31/05/2026
Sự ra đời của Luật Công nghiệp trọng điểm được kỳ vọng sẽ tạo ra một trụ cột thể chế mới cho nền sản xuất quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và xây dựng nền kinh tế tự chủ, việc xác lập cơ chế phát triển tập trung cho các ngành công nghiệp then chốt được xem là bước đi mang ý nghĩa chiến lược lâu dài.

Ngày 3/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 82/NQ-CP, chính thức thông qua chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm - một bước tiến có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình hoàn thiện khung pháp lý cho nền công nghiệp quốc gia. Sự cần thiết xây dựng đạo luật này được đặt trên ba nền tảng vững chắc: cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn.

Ý chí nhất quán của Đảng qua nhiều kỳ Đại hội

Chủ trương phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm đã được thể hiện xuyên suốt, nhất quán qua các văn kiện của Đảng từ Đại hội VI đến nay. Xuất phát từ nhận thức nguồn lực quốc gia cần được ưu tiên phân bổ có trọng tâm, trọng điểm cho những ngành có tính nền tảng, thiết yếu và có tác động lan tỏa cao đến toàn bộ nền kinh tế, Đảng đã thể hiện ý chí phát triển công nghiệp trọng điểm qua các Văn kiện và Nghị quyết mang tính xuyên suốt.

Tạo điều kiện pháp lý để thúc đẩy ngành công nghiệp trọng điểm- Ảnh 1.

Văn kiện Đại hội XIII xác định “Tập trung phát triển một số ngành công nghiệp nền tảng đáp ứng nhu cầu về tư liệu sản xuất cơ bản của nền kinh tế như công nghiệp năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, hóa chất, phân bón, vật liệu...”. Đại hội XIV tiếp tục nêu định hướng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp nền tảng gồm năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu mới, hóa chất, công nghệ số và sinh học; đồng thời xác định đây là một trong sáu trọng tâm và ba đột phá chiến lược của giai đoạn tới.

Ở cấp chuyên đề, Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị - nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về phát triển công nghiệp - đã đặt ra nguyên tắc lựa chọn ngành ưu tiên theo hướng khách quan, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, có tác động lan tỏa cao và sử dụng công nghệ sạch.

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2030 tiếp tục đặt yêu cầu rà soát, hoàn thiện chính sách theo hướng tập trung, không dàn trải; đồng thời xác định danh mục cụ thể các lĩnh vực ưu tiên trong luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất, năng lượng tái tạo, vật liệu mới, công nghệ số và công nghiệp hỗ trợ.

Điều 50 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 203/2025/QH15) cũng ghi nhận mục tiêu “thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”.

Trong thời gian qua, Đảng tiếp tục đưa ra các chủ trương về công nghiệp hóa và phát triển công nghiệp tại Nghị quyết số 29-NQ/TW; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Các nghị quyết then chốt nêu trên đã đề ra những chủ trương lớn về phát triển nền sản xuất công nghiệp trong nước dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ; gia tăng tỷ lệ nội địa hóa; tạo cơ chế để các doanh nghiệp tư nhân trong nước tham gia vào các dự án công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp ưu tiên của quốc gia.

Toàn bộ hệ thống chủ trương đó đặt ra yêu cầu thể chế hóa thành luật, vừa để triển khai hiệu quả các định hướng của Đảng, vừa phục vụ mục tiêu tăng trưởng “hai con số” mà Đại hội XIV đề ra một cách bền vững.

Những điểm nghẽn chờ được tháo gỡ

Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận trong phát triển công nghiệp qua các giải pháp chính sách đã triển khai, thực tiễn thời gian qua cho thấy vẫn còn nhiều bất cập căn bản chưa được giải quyết.

Cần thiết xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm- Ảnh 1.

Một trong số đó là các khoảng trống pháp lý cho các ngành công nghiệp nền tảng. Một số ngành đặc thù như hóa chất, điện lực, dầu khí, khai thác khoáng sản hay công nghiệp quốc phòng… đã có luật chuyên ngành điều chỉnh.

Tuy nhiên, nhiều ngành quan trọng như cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu, công nghiệp sinh học, dệt may, da giày và công nghiệp hỗ trợ… cho đến nay vẫn chưa có hành lang pháp lý thống nhất và bền vững. Các dịch vụ kiểm định, thử nghiệm và chứng nhận chất lượng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ còn nhiều hạn chế; thiếu đầu mối hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ cụ thể cho doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

Hệ quả là chính sách phát triển công nghiệp bị phân tán, phụ thuộc vào sự sáng tạo cục bộ của từng địa phương, thiếu liên kết vùng và thiếu trọng tâm quốc gia.

Ngoài ra, các chính sách ưu đãi hiện hành còn mang tính dàn trải, kém hiệu quả. Các ưu đãi tài chính hiện nay trải rộng theo nhiều lĩnh vực và địa bàn, chưa tập trung đúng mức vào các ngành có tính nền tảng. Doanh nghiệp công nghiệp còn gặp khó khăn trong tiếp cận hỗ trợ của Nhà nước; chi phí sản xuất trong nước vẫn cao hơn đối thủ cạnh tranh ngoại khối. Cơ chế chuyển giao, đổi mới và ứng dụng công nghệ sản xuất - đặc biệt các xu hướng nhà máy thông minh và quản trị số - chưa được thể chế hóa bền vững.

Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh còn đến từ việc các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc… không ngừng thúc đẩy mạnh chính sách công nghiệp nội địa. Điều này đặt Việt Nam trước thách thức thu hút đầu tư và cạnh tranh thị trường quốc tế nếu không có những chính sách đủ mạnh và kịp thời.


Chính phủ thông qua chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm- Ảnh 1.

Trên cơ sở các nền tảng nêu trên, Nghị quyết số 82/NQ-CP thông qua hai nhóm chính sách cốt lõi do Bộ Công Thương đề xuất: khuyến khích sản xuất và chế tạo trong nước các sản phẩm công nghiệp trọng điểm, và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Hai chính sách này hướng đến mục tiêu chuyển dịch từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế và sản xuất có hàm lượng tri thức cao; đẩy mạnh nội địa hóa để tận dụng ưu đãi xuất xứ từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; đồng thời thu hút FDI có chọn lọc, gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Sự ra đời của Luật Công nghiệp trọng điểm được kỳ vọng tạo bước đột phá thể chế, đặt nền móng pháp lý vững chắc để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia công nghiệp phát triển vào năm 2045, hoàn thành mục tiêu tăng trưởng “hai con số”, đưa công nghiệp trở thành trụ cột quan trọng của nền kinh tế trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Lý Quốc Thịnh