Thứ sáu, 22/05/2026 | 02:37

Trong dòng chảy đó, Bộ Công Thương đang thể hiện rõ vai trò tiên phong trong cụ thể hóa chủ trương của Đảng, từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển của ngành và đất nước.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhận thức sâu sắc điều đó, Đảng ta đã từng bước hoàn thiện hệ thống chủ trương, nghị quyết mang tính chiến lược nhằm tạo đột phá cho lĩnh vực đặc biệt quan trọng này.
Từ Nghị quyết số 20-NQ/TW năm 2012 về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đến Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là “động lực chính của tăng trưởng”, tư duy phát triển đã có sự chuyển biến căn bản: từ coi khoa học công nghệ là lĩnh vực hỗ trợ sang đặt ở vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng mới.
Bước ngoặt đặc biệt quan trọng là việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây không chỉ là một nghị quyết chuyên đề, mà còn là sự khẳng định mạnh mẽ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong xây dựng nền kinh tế tự chủ dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết 57 đã đưa ra những quan điểm rất mới và mang tính “mở khóa” cho hoạt động khoa học công nghệ. Đó là chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học; thúc đẩy cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; trao quyền tự chủ mạnh hơn cho tổ chức khoa học công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Quan trọng hơn, Nghị quyết 57 đã nhìn thẳng vào những “điểm nghẽn” kéo dài nhiều năm trong hoạt động khoa học công nghệ, đặc biệt là cơ chế tài chính, cơ chế đặt hàng, khoán chi, thủ tục hành chính và tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm trong nghiên cứu.
Tinh thần đổi mới đó tiếp tục được cụ thể hóa bằng hàng loạt văn bản của Quốc hội và Chính phủ như Nghị quyết số 03/NQ-CP, Nghị quyết số 71-NQ/TW cùng việc Quốc hội thông qua Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025. Có thể nói, lần đầu tiên Việt Nam hình thành một hệ thống chính sách tương đối đồng bộ, đặt khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo vào đúng vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia.
Điểm đột phá lớn nhất của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 chính là việc chuyển từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, giảm mạnh thủ tục hành chính và trao quyền chủ động nhiều hơn cho nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp. Luật mới cho phép khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, mở rộng cơ chế đầu tư mạo hiểm, đồng thời quy định rõ việc miễn trách nhiệm dân sự, hành chính, thậm chí hình sự đối với nhà khoa học nếu rủi ro xảy ra do nguyên nhân khách quan và không có gian lận.
Đây không đơn thuần là sửa đổi kỹ thuật pháp lý, mà là sự thay đổi tư duy quản trị. Từ chỗ kiểm soát quá trình nghiên cứu bằng hồ sơ, thủ tục, sang quản lý bằng kết quả đầu ra và dữ liệu minh bạch. Từ chỗ e ngại rủi ro sang chấp nhận rủi ro như một phần tất yếu của sáng tạo khoa học.
Chính sự thay đổi mang tính nền tảng này đã tạo niềm tin rất lớn cho đội ngũ nhà khoa học, doanh nghiệp và các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Là bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực với phạm vi trải rộng từ công nghiệp nền tảng, năng lượng, hóa chất, cơ khí đến thương mại, logistics và chuyển đổi số công nghiệp, Bộ Công Thương được xác định là một trong những lực lượng nòng cốt trong triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW.
Ngay sau khi Nghị quyết được ban hành, Bộ Công Thương đã thể hiện tinh thần chủ động, quyết liệt và sớm hành động. Hàng loạt kế hoạch, chương trình cụ thể được xây dựng nhằm nhanh chóng đưa chủ trương của Đảng vào thực tiễn.
Theo ông Trần Minh - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều nội dung cụ thể như Quyết định số 116/QĐ-BCT ngày 13/1/2025, Kế hoạch số 1439/QĐ-BCT ngày 26/5/2025, xác định 49 nhiệm vụ và 6 lĩnh vực trọng tâm. Tiếp đó là Kế hoạch hành động số 01 của Đảng ủy Bộ ngày 28/7/2025 với 18 nhiệm vụ trọng tâm và Kế hoạch số 11 ngày 30/9/2025 cụ thể hóa 20 nhiệm vụ gắn với 20 đột phá chiến lược.
Hệ thống nhiệm vụ này tập trung vào các trụ cột quan trọng như: hoàn thiện thể chế quản trị; phát triển công nghiệp tự chủ về công nghệ; xây dựng hạ tầng dữ liệu; thúc đẩy năng lực đổi mới sáng tạo; triển khai các dự án công nghệ chiến lược; phát triển công nghiệp xanh và chuyển đổi số ngành Công Thương.
Mặt khác, Bộ Công Thương không chỉ dừng ở việc ban hành văn bản hành chính, mà đã tiếp cận vấn đề theo hướng xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn ngành.
Trong nhiều năm, một trong những “nút thắt” lớn nhất của khoa học công nghệ chính là khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn sản xuất. Nhiều đề tài nghiên cứu thiếu tính ứng dụng, trong khi doanh nghiệp lại thiếu cơ chế tiếp cận công nghệ và nguồn lực đổi mới sáng tạo.
Nhận diện rõ vấn đề đó, Bộ Công Thương đã thúc đẩy mạnh mô hình liên kết “ba nhà”: Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp. Theo ông Trần Minh, hoạt động đổi mới sáng tạo phải “xuất phát từ nhu cầu quản lý, sản xuất kinh doanh; đầu bài phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp”.
Tư duy này đánh dấu sự thay đổi rất quan trọng. Nếu trước đây nghiên cứu khoa học chủ yếu đi từ phía cơ quan quản lý hoặc viện nghiên cứu, thì nay doanh nghiệp được đặt vào vị trí trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Các nhiệm vụ khoa học công nghệ của ngành được yêu cầu phải có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các ngành công nghiệp nền tảng, ưu tiên, mũi nhọn và gắn với chuỗi giá trị sản xuất.
Những chuyển động mạnh mẽ của Bộ Công Thương thời gian qua không chỉ thể hiện ở việc ban hành kế hoạch hành động hay tổ chức các hội nghị chuyên đề, mà quan trọng hơn là ở cách tiếp cận mới đối với hoạt động khoa học công nghệ: lấy doanh nghiệp và nhu cầu thực tiễn của ngành làm trung tâm. Trong tiến trình đó, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 được xem là nền tảng pháp lý quan trọng để tháo gỡ những rào cản tồn tại nhiều năm, tạo không gian phát triển mới cho toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ngành Công Thương.
Theo PGS.TS. Vũ Nguyên Thành – Viện trưởng Viện Công nghiệp Thực phẩm, điểm nghẽn lớn nhất của khoa học công nghệ hiện nay không phải là thiếu ý tưởng hay thiếu đội ngũ nghiên cứu, mà nằm ở cơ chế vận hành và khả năng tích lũy tri thức dài hạn. Ông cho rằng trong thời gian dài, hoạt động nghiên cứu còn chịu tác động bởi cơ chế đặt hàng ngắn hạn, manh mún, phụ thuộc vào từng đề tài nhỏ lẻ nên các viện nghiên cứu rất khó xây dựng năng lực lõi và theo đuổi các hướng công nghệ chuyên sâu.
Chính vì vậy, việc Quốc hội thông qua Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, cắt giảm nhiều thủ tục hành chính và trao quyền chủ động lớn hơn cho tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà khoa học. Theo các chuyên gia, trước đây, các nhà khoa học phải dành quá nhiều thời gian cho quy trình hồ sơ, thủ tục, thanh quyết toán, trong khi hoạt động nghiên cứu vốn đòi hỏi tính linh hoạt và chấp nhận rủi ro. Luật mới đã tháo gỡ đáng kể những vướng mắc đó thông qua cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, mở rộng quyền tự chủ tài chính, cho phép linh hoạt hơn trong sử dụng kinh phí nghiên cứu và đánh giá kết quả dựa trên hiệu quả đầu ra thay vì nặng về thủ tục đầu vào.
Đặc biệt, quy định miễn trách nhiệm dân sự, hành chính, thậm chí hình sự đối với nhà khoa học nếu rủi ro xảy ra do nguyên nhân khách quan và không có gian lận được xem là bước đột phá rất lớn về tư duy quản trị khoa học. Đây không chỉ là cơ chế pháp lý bảo vệ nhà khoa học, mà còn là thông điệp khẳng định tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm mà Đảng và Nhà nước đang thúc đẩy trong giai đoạn phát triển mới.
Có thể nói, trong thời gian dài, khoa học công nghệ dù được xác định là quốc sách hàng đầu nhưng vẫn chưa phát huy hết vai trò động lực phát triển. Khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất còn lớn; nhiều kết quả nghiên cứu khó thương mại hóa; doanh nghiệp chưa thực sự trở thành trung tâm của đổi mới sáng tạo; còn đội ngũ nhà khoa học nhiều khi bị “trói” bởi thủ tục hành chính và cơ chế tài chính thiếu linh hoạt.
Nghị quyết số 57-NQ/TW cùng Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã cho thấy tư duy đổi mới rất rõ của Đảng và Nhà nước khi lần đầu tiên nhìn nhận hoạt động khoa học công nghệ theo đúng bản chất của sáng tạo: phải chấp nhận thử nghiệm, chấp nhận rủi ro và lấy hiệu quả thực tiễn làm thước đo.
Việc chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, mở rộng quyền tự chủ cho tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp, cho phép khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hay bảo vệ nhà khoa học trước các rủi ro khách quan… không chỉ tháo gỡ rào cản về thủ tục, mà còn góp phần giải phóng tư duy sáng tạo – yếu tố quan trọng nhất của phát triển khoa học công nghệ.
Đối với ngành Công Thương, ý nghĩa của các chính sách này càng trở nên rõ nét bởi đây là lĩnh vực có tính ứng dụng công nghệ rất cao, gắn trực tiếp với sản xuất công nghiệp, năng lượng, hóa chất, cơ khí, logistics và thương mại hiện đại. Nếu không tháo gỡ được các nút thắt về thể chế, tài chính và cơ chế liên kết thì rất khó hình thành các doanh nghiệp công nghệ mạnh hay các ngành công nghiệp tự chủ về công nghệ.
Thực tế cho thấy, Bộ Công Thương đang từng bước chuyển hóa tinh thần của các nghị quyết thành động lực phát triển cụ thể cho toàn ngành. Các nhiệm vụ khoa học công nghệ không còn triển khai theo hướng dàn trải mà tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp nền tảng, công nghệ lõi, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Đặc biệt, việc thúc đẩy mô hình liên kết “Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp” đang tạo ra thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển khoa học công nghệ. Nếu trước đây nghiên cứu và sản xuất còn tách rời, thì nay các nhiệm vụ nghiên cứu được yêu cầu phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, hướng tới khả năng ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm.
Theo PGS.TS. Vũ Nguyên Thành, điều quan trọng nhất hiện nay là phải tạo được cơ chế tích lũy tri thức và năng lực nghiên cứu dài hạn. Đây cũng chính là ý nghĩa sâu xa của việc đổi mới thể chế khoa học công nghệ: không chỉ tháo gỡ khó khăn trước mắt, mà còn tạo nền tảng để hình thành các trung tâm nghiên cứu mạnh, các doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh và các ngành công nghiệp tự chủ trong tương lai.
Có thể khẳng định, những quyết sách của Đảng thời gian qua, đặc biệt là Nghị quyết 57-NQ/TW, không chỉ mang ý nghĩa định hướng chiến lược mà còn thể hiện tính kịp thời, sát thực tiễn và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Khi thể chế được khơi thông, nguồn lực được giải phóng và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển thực chất, khoa học công nghệ sẽ có điều kiện phát huy đúng vai trò là nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững và tự chủ của nền kinh tế Việt Nam.
Công nghệ chiến lược sẽ tạo động lực hình thành các ngành sản xuất mới, tăng năng suất lao động, mở rộng không gian tăng trưởng cho kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới.
21/05/2026