Thứ bảy, 10/10/2026 | 05:41
Tại buổi họp báo quý III và phương hướng, nhiệm vụ quý IV năm 2026 do UBND tỉnh Tây Ninh tổ chức ngày 9/10, trả lời câu hỏi của phóng viên Báo Công Thương, bà Châu Thị Lệ, Phó Giám đốc Sở Công Thương đã phân tích điểm nghẽn của công nghiệp hỗ trợ và thông tin về hệ thống giải pháp chính sách vừa được ban hành.

Toàn cảnh họp báo quý III và phương hướng, nhiệm vụ quý IV năm 2026 do UBND tỉnh Tây Ninh tổ chức
Tăng trưởng cao, giá trị nội địa còn mỏng
9 tháng năm 2026, GRDP của Tây Ninh ước tăng 10,30%, xếp thứ 10/34 tỉnh, thành phố và dẫn đầu khu vực phía Nam. Công nghiệp tiếp tục là động lực chính với mức tăng 14,47%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,02%, riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,32%. Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 15,54 tỷ USD, tăng 19% và đã hoàn thành 79,3% kế hoạch năm. Tỉnh hiện có 2.152 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 27,16 tỷ USD, đứng thứ 7 cả nước.
Tuy nhiên, phía sau đà tăng trưởng ấn tượng là cấu trúc sản xuất còn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu. Trong 8 tháng, riêng thị trường Trung Quốc đã chiếm 46,9% tổng kim ngạch nhập khẩu của tỉnh, với 4,77 tỷ USD. Ở đầu ra, Hoa Kỳ chiếm 32,9% kim ngạch xuất khẩu, dẫn đầu là dệt may 834 triệu USD và giày dép 603 triệu USD. Nhập nguyên phụ liệu, lắp ráp, hoàn thiện rồi xuất khẩu, đó là “hình hài” quen thuộc của mô hình gia công, nơi phần giá trị gia tăng giữ lại trong nước không lớn.
Đánh giá về thực trạng này, bà Châu Thị Lệ cho biết, ngành công nghiệp của tỉnh phát triển đa dạng ngành hàng, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Dù vậy, công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa tham gia bền vững vào chuỗi giá trị của các ngành hàng. Nguyên nhân cốt lõi nằm ở quy mô và năng lực của chính doanh nghiệp, thể hiện ở nhiều mặt: vốn, kỹ thuật, tính đa dạng sản phẩm, khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và sức cạnh tranh.

Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Tây Ninh Châu Thị Lệ trả lời phóng viên Báo Công Thương.
Số liệu hạ tầng công nghiệp cho thấy thêm một góc nhìn. 35 khu công nghiệp đủ điều kiện tiếp nhận đầu tư của tỉnh mới lấp đầy 68,24%, quỹ đất sạch sẵn sàng cho thuê còn 1.457 ha. Vì thế, mặt bằng chưa phải rào cản lớn với dự án quy mô lớn. Bức tranh khác hơn ở cụm công nghiệp, nơi tập trung chủ yếu doanh nghiệp trong nước với 442/535 dự án. 24 cụm đang hoạt động đã lấp đầy 93,9% diện tích có hạ tầng hoàn chỉnh, quỹ đất còn khoảng 46 ha. Trong 9 tháng, tỉnh đã thành lập mới 9 cụm công nghiệp để mở thêm dư địa cho khối doanh nghiệp này.
Sức chống chịu của doanh nghiệp trong nước cũng là điểm đáng lưu tâm. Trong 9 tháng có 5.252 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 31%. Cùng kỳ, số doanh nghiệp giải thể tăng tới 71%, lên 733 doanh nghiệp. Với nền tảng còn mỏng như vậy, doanh nghiệp khó tự mình đáp ứng yêu cầu trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia, vốn khắt khe về chất lượng, tiến độ và giá thành.
Dựng “khung chính sách” đưa doanh nghiệp nội vào chuỗi
Nhận diện rõ điểm nghẽn, trong nhiệm vụ trọng tâm quý IV, UBND tỉnh yêu cầu thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI, nâng cao mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của khu vực FDI. Tỉnh cũng chủ trương thu hút có chọn lọc dự án đầu tư nước ngoài, nhất là trong các ngành mới nổi, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước.
Cụ thể hóa định hướng này, Sở Công Thương đã tham mưu UBND tỉnh ban hành hệ thống chính sách đi từ định hướng dài hạn đến công cụ tài chính. Ở tầm chiến lược, Đề án Phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu tỉnh Tây Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được ban hành tại Quyết định số 18086/QĐ-UBND ngày 30/9/2026.
Trực tiếp hơn là Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 được phê duyệt tại Quyết định số 14621/QĐ-UBND ngày 12/8/2026. Đi kèm là Quy chế quản lý kinh phí phát triển công nghiệp hỗ trợ, ban hành theo Quyết định số 128/2026/QĐ-UBND ngày 3/9/2026. Đây là mắt xích quan trọng để các chương trình hỗ trợ đi vào thực chất, tháo gỡ trực tiếp điểm yếu về vốn và kỹ thuật của doanh nghiệp.

Tây Ninh có quỹ đất khu công nghiệp còn dồi dào, nhưng bài toán đặt ra là đưa doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI.
Sở Công Thương cũng đã trình UBND tỉnh Kế hoạch thúc đẩy hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và Chương trình Vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026 - 2030, hướng doanh nghiệp địa phương từng bước tham gia trực tiếp vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song song, các đề án khuyến công, xúc tiến thương mại, thương mại điện tử tiếp tục được triển khai. Nền tảng xúc tiến thương mại trên môi trường số tỉnh Tây Ninh đang được xây dựng, có thể trở thành “điểm hẹn” kết nối cung - cầu giữa nhà sản xuất trong nước với doanh nghiệp FDI. Các giải pháp còn được lồng ghép với chương trình phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế.
Dù vậy, khung chính sách mới chỉ là điều kiện cần. Theo Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Tây Ninh, phần lớn văn bản vừa được ban hành trong quý III/2026, nên hiệu quả thực tế phụ thuộc vào tốc độ triển khai và sự chủ động của doanh nghiệp. Thời gian tới, cần những cơ chế kết nối cụ thể hơn, như danh mục sản phẩm doanh nghiệp FDI có nhu cầu nội địa hóa, chương trình nâng chuẩn nhà cung ứng hay hỗ trợ đặt hàng theo hợp đồng dài hạn. Khi đó, lợi thế quy mô xuất khẩu của Tây Ninh mới thực sự chuyển hóa thành giá trị gia tăng ở lại địa phương.
Trong 8 tháng năm 2026, xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng của Tây Ninh sang Hoa Kỳ đạt 554 triệu USD, tăng 54,6%; dây điện và dây cáp điện đạt 153 triệu USD, tăng 32,3%. Đáng chú ý, nguyên phụ liệu dệt may, da giày xuất sang thị trường Campuchia đạt 61 triệu USD, tăng 30%, cho thấy doanh nghiệp trong tỉnh đã bắt đầu cung ứng đầu vào cho chuỗi sản xuất trong khu vực.
Công nghiệp chế biến, chế tạo Tây Ninh tăng 15,32% sau 9 tháng, song công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa bám chắc chuỗi giá trị. Loạt chính sách mới được kỳ vọng gỡ nút thắt.
09/10/2026