Chủ nhật, 14/06/2026 | 17:54
Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài coi FDI là một bộ phận cấu thành không tách rời của nền kinh tế Việt Nam. Để làm rõ hơn nội dung này, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với TS. Bùi Quý Thuấn - Trường Kinh tế - Đại học Phenikaa, Trưởng Ban Nghiên cứu tổng hợp Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam.

- Tại Nghị quyết 10-NQ/TW, Bộ Chính trị đặt khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trong cấu trúc của mô hình tăng trưởng mới. Theo ông, điều này cho thấy Việt Nam đang điều chỉnh chiến lược phát triển dài hạn như thế nào?
TS. Bùi Quý Thuấn: Đứng ở góc độ hoạch định chính sách, việc đặt khu vực FDI vào cấu trúc của mô hình tăng trưởng mới tại Nghị quyết số 10-NQ/TW cho thấy những điều chỉnh mang tính chiến lược và dài hạn của Việt Nam thể hiện ở 4 điểm cốt lõi:
Thứ nhất, chuyển từ tư duy "tăng trưởng dựa trên nguồn lực" sang "tăng trưởng dựa trên hiệu suất”. Việc gắn cấu trúc FDI với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho thấy Việt Nam không còn đặt trọng tâm vào mở rộng vốn, lao động hay tài nguyên, mà hướng tới nâng cao năng suất, hàm lượng công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực số trong thu hút FDI.
Thứ hai, định vị lại vị thế quốc gia trong bối cảnh mới của địa chính trị trên toàn cầu hiện nay, chuyển từ thu hút FDI dựa vào sản xuất có hàm lượng giá trị gia tăng thấp với nhân công giá thấp sang vị thế “Việt Nam nằm trong chiến lược toàn cầu” của các tập đoàn xuyên quốc gia phù hợp với mục tiêu thu hút các tập đoàn Fortune 500… Cho thấy đây là một sự thay đổi lớn về tầm nhìn, chứng tỏ Việt Nam đang điều chỉnh chiến lược để trở thành một mắt xích quan trọng trong nghiên cứu, thiết kế và quản trị của khu vực châu Á.
Thứ ba, Nghị quyết nhấn mạnh việc phát triển kinh tế FDI phải gắn liền với yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh địa chính trị mới. Điều này chứng tỏ, Việt Nam nhận thức sâu sắc về rủi ro phụ thuộc dòng vốn ngoại khi thế giới có biến động. Theo đó, chú trọng chuyển giao công nghệ lõi, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa (đạt 45 - 50% trong các ngành chủ lực), nâng cao tỷ lệ người Việt Nam làm chủ các vị trí kỹ thuật, quản lý cấp cao trong các công ty đa quốc gia và tập đoàn quốc tế lớn.
Thứ tư, cam kết toàn cầu về phát triển bền vững đã được thể hiện trong chiến lược thu hút FDI dài hạn của Việt Nam bằng cách tích hợp các tiêu chuẩn toàn cầu khi đưa "chuyển đổi xanh" và "mô hình khu công nghiệp sinh thái" vào tiêu chí lựa chọn dòng vốn FDI.
Tóm lại, việc đặt khu vực FDI vào cấu trúc mô hình tăng trưởng mới chứng minh Việt Nam đang điều chỉnh chiến lược phát triển dài hạn theo hướng chủ động, chọn lọc và thực chất hơn. Việt Nam đang dịch chuyển từ tư thế một quốc gia "đi thu hút, mời gọi" sang một quốc gia "kiến tạo hệ sinh thái chất lượng cao" để các dòng vốn đẳng cấp tự tìm đến và cùng đồng hành dài hạn.

Khu vực FDI đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ảnh minh hoạ
- FDI thời gian qua chủ yếu tham gia các công đoạn giá trị gia tăng thấp trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Theo ông, những định hướng mới trong Nghị quyết 10-NQ/TW có thể giúp thay đổi thực trạng này như thế nào?
TS. Bùi Quý Thuấn: Đứng từ góc nhìn cấu trúc và chuỗi giá trị toàn cầu, việc Việt Nam chủ yếu tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng thấp là hệ quả của mô hình thu hút FDI theo số lượng ở giai đoạn trước. Nghị quyết số 10-NQ/TW lần này đã đưa ra những định hướng mang tính tái cấu trúc toàn diện, chủ động và trực tiếp định hình lại cấu trúc của chuỗi giá trị thông qua các định hướng chính sách cụ thể.
Thu hút và dịch chuyển dòng vốn FDI lên "thượng nguồn" của chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị. Cụ thể, tập trung thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, và trụ sở điều hành khu vực. Việc đặt mục tiêu có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới lập trung tâm R&D tại Việt Nam trước năm 2030 là minh chứng cho việc chuyển dịch từ khâu "lắp ráp" sang khâu "sáng tạo và tạo ra công nghệ".
Cùng với đó, ưu tiên thu hút và ưu đãi theo "công nghệ lõi" thay vì thu hút dựa vào quy mô vốn. Nghị quyết cũng xác định rõ danh mục các lĩnh vực chiến lược ưu tiên như: chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ sinh học, vật liệu tiên tiến và dịch vụ chuỗi cung ứng giá trị gia tăng cao. Với tiêu chí lựa chọn dòng vốn mới tập trung vào các doanh nghiệp sở hữu công nghệ nền tảng, công nghệ lõi và công nghệ chuyên biệt. Khi các doanh nghiệp nắm giữ công nghệ lõi đặt nhà máy, cấu trúc sản xuất tại Việt Nam sẽ chuyển hóa từ thâm dụng lao động sang thâm dụng tri thức, từ đó nâng cao giá trị thặng dư giữ lại trong nước.
Nghị quyết chuyển từ tư duy ưu đãi dựa trên các yếu tố đầu vào (như đất đai, quy mô vốn đầu tư), thay vào đó, nhấn mạnh doanh nghiệp FDI chỉ được hưởng chính sách ưu đãi vượt trội khi có kết quả thực hiện cam kết về tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng hình thành tại Việt Nam và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội địa. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp FDI phải chủ động xây dựng mạng lưới nhà cung ứng tại chỗ thay vì nhập khẩu 100% linh kiện từ nước ngoài.
Nghị quyết cũng giúp nâng cấp năng lực doanh nghiệp nội địa thông qua "Chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng". Xây dựng Chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước và cơ sở dữ liệu quốc gia kết nối cụm liên kết ngành, áp dụng cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập (M&A), hoặc mua lại công nghệ truyền thống từ nước ngoài và tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ khối FDI. Mục tiêu hình thành từ 500 - 1.000 nhà cung ứng cấp I nội địa trước năm 2030, điều này giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ các công đoạn sản xuất then chốt, thay vì chỉ làm thầu phụ ở các khâu phụ trợ...

Việt Nam đang được đánh giá là điểm đến đầu tư hấp dẫn. Ảnh minh hoạ
Tập trung thu hút FDI theo cụm ngành, chuỗi giá trị
- Nghị quyết 10-NQ/TW cũng nhấn mạnh, thu hút FDI theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thay vì theo địa giới hành chính. Cách tiếp cận này sẽ tạo ra thay đổi gì về không gian phát triển kinh tế của Việt Nam, thưa ông?
TS. Bùi Quý Thuấn: Dưới góc độ nghiên cứu chính sách việc chuyển dịch tư duy từ thu hút FDI theo địa giới hành chính sang cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong Nghị quyết số 10-NQ/TW là một tư duy mới phù hợp với quy hoạch và định hình không gian phát triển kinh tế của Việt Nam. Điều này cho thấy đổi mới mạnh mẽ trong tư duy kiến tạo phát triển ở các khía cạnh sau:
Việc xóa bỏ tư duy cục bộ địa phương và hiện tượng "phân rã không gian", định hướng này sẽ buộc các địa phương phải đặt mình trong tổng thể quy hoạch vùng và quốc gia. Không gian kinh tế không còn bị chia cắt bởi ranh giới hành chính của một tỉnh hay địa phương, mà được mở rộng theo các vùng động lực, hành lang kinh tế và cụm liên kết ngành dựa trên lợi thế so sánh thực tế của từng khu vực.
Đặc biệt, việc hình thành các "cực tăng trưởng chuyên sâu" tích hợp với thí điểm thể chế vượt trội tại một số khu vực như: Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu kinh tế tự do và mạng lưới logistics tích hợp. Cách tiếp cận theo cụm ngành sẽ thúc đẩy sự tích tụ địa lý, lan tỏa của các doanh nghiệp có mối quan hệ tương hỗ với doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa.
Nghị quyết 10 định hướng thí điểm các mô hình thể chế vượt trội tại các không gian phát triển mới như: Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu công nghệ cao và các trung tâm đổi mới sáng tạo… Đây sẽ là nơi các công nghệ mới nổi (như AI, dữ liệu lớn, blockchain) hay các sàn giao dịch tài sản mã hóa được thử nghiệm kiểm soát. Những không gian thể chế này sẽ là thỏi nam châm thu hút các dòng vốn thế hệ mới, đưa Việt Nam hội nhập sâu vào cấu trúc tài chính và công nghệ toàn cầu…
- Có thể nói, thách thức lớn nhất hiện nay của Việt Nam trong thu hút FDI không chỉ là thu hút các dự án công nghệ mà là năng lực hấp thụ và lan tỏa công nghệ của các doanh nghiệp nội địa. Theo ông, Nghị quyết 10-NQ/TW đã chạm tới vấn đề này như thế nào?
TS. Bùi Quý Thuấn: Một quốc gia không thể trở nên hiện đại hóa chỉ bằng việc cho phép các tập đoàn công nghệ cao đặt nhà máy trên lãnh thổ của mình. Nếu năng lực hấp thụ (năng lực tiếp thu, làm chủ) và năng lực lan tỏa (sự kết nối, sẻ chia tri thức) của nền kinh tế nội địa yếu, thì khu vực FDI sẽ mãi là một phần “tách biệt” trong nền kinh tế Việt Nam.
Do đó, trong Nghị quyết số 10-NQ/TW đã coi vấn đề này là một nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt với những giải pháp can thiệp trực tiếp, cụ thể: Nghị quyết đã đề cập đến việc nâng cao "năng lực hấp thụ" của nguồn nhân lực trong nước thông qua phát triển nhân lực chất lượng cao, với mục tiêu nâng cao tỷ trọng lao động qua đào tạo đạt khoảng 80% trong cơ cấu sử dụng lao động của khối FDI trước năm 2030. Đồng thời có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích để người Việt Nam từng bước đảm nhiệm và làm chủ các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, và vận hành chuỗi cung ứng trong các dự án chất lượng cao.
Cùng với đó, thúc đẩy khu vực FDI phải "lan tỏa công nghệ" bằng công cụ kinh tế. Nghị quyết chấm dứt việc ưu đãi vô điều kiện mà chuyển sang cơ chế "ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo kết quả thực hiện". Doanh nghiệp FDI chỉ được hưởng các mức ưu đãi, hỗ trợ vượt trội khi họ thực hiện tốt các cam kết tự nguyện về: chuyển giao công nghệ tiên tiến cho doanh nghiệp Việt Nam, đóng góp lớn vào hoạt động R&D, phát triển nhà cung ứng trong nước. Đồng thời, yêu cầu các doanh nghiệp FDI phải công bố công khai nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quản trị và lộ trình nội địa hóa để doanh nghiệp Việt Nam có mục tiêu phấn đấu và nâng cao năng lực kết nối.
Nghị quyết 10 đã vạch rõ lộ trình kiến tạo chiếc cầu nối từ cơ quan nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp thông qua triển khai Chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước: Hình thành nền tảng kết nối, cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ chế hợp tác dài hạn giữa khối FDI và doanh nghiệp nội địa, khuyến khích các quỹ đầu tư, trung gian tài chính nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp trong nước gắn liền với nghĩa vụ nâng cao công nghệ, quản trị và thị trường.
Như vậy, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã giải quyết bài toán hấp thụ và lan tỏa công nghệ bằng một tư duy thực tế. Nhà nước không ngồi chờ khối FDI tự nguyện chuyển giao công nghệ, mà dùng áp lực chính sách (ưu đãi theo kết quả thực hiện) kết hợp với nâng cấp nội lực thông qua đào tạo nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ doanh nghiệp nội làm nhà cung ứng để chủ động hút công nghệ giúp Việt Nam tự chủ trong phát triển.
- Xin cảm ơn ông!
Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu: Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao
Dù duy trì vị thế ngành xuất khẩu tỷ USD, ngành gỗ đang đứng trước nhiều sức ép từ bên ngoài. Đa dạng hóa thị trường và hoàn thiện chính sách trở thành yêu cầu cấp thiết.
14/06/2026