Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương
IGIP IGIP

Chủ nhật, 01/11/2026 | 19:13

Công nghiệp năng lượng

Bảo đảm cung ứng điện năm 2027: Chủ động từ nguồn đến lưới

01/11/2026
Nhu cầu điện tăng cao, nguy cơ bất lợi về thủy văn đặt ra yêu cầu EVN chuẩn bị sớm nhiên liệu, nâng độ sẵn sàng tổ máy và đẩy nhanh các công trình nguồn, lưới điện cho năm 2027.

Chuẩn bị sớm trước sức ép phụ tải

Bảo đảm cung ứng điện năm 2027 đang được ngành điện triển khai ngay từ những tháng cuối năm 2026. Trọng tâm là chuẩn bị nhiên liệu, tích nước hồ thủy điện, bố trí sửa chữa tổ máy và bổ sung năng lực truyền tải, phân phối, các nhiệm vụ này được thực hiện đồng bộ để đáp ứng nhu cầu điện tăng cao, nhất là trong những tháng nắng nóng.

Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống trong chín tháng 2026 đạt 265,79 tỷ kWh, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2025. Nhiệt điện than đóng góp 49,9%, thủy điện chiếm 25,8%, cơ cấu nguồn cho thấy việc bảo đảm nhiên liệu và sử dụng hiệu quả nguồn nước tiếp tục có ý nghĩa lớn đối với khả năng đáp ứng của hệ thống.

Dự án TBA 220kV Phú Quốc kịp thời khánh thành và đưa vào vận hành tháng 8/2026 đã góp phần nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, đảm bảo điện cho tăng trưởng kinh tế tại địa phương.

Dự án TBA 220kV Phú Quốc kịp thời khánh thành và đưa vào vận hành tháng 8/2026 đã góp phần nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, đảm bảo điện cho tăng trưởng kinh tế tại địa phương.

Tại khu vực do Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) quản lý, công suất cực đại năm 2027 được dự báo khoảng 23.500–23.800 MW, tăng 12–12,5%. Tổng công ty cũng ghi nhận tình trạng công suất khách hàng đăng ký có trường hợp cao hơn đáng kể so với sử dụng thực tế. Vì vậy, cập nhật tiến độ từng nhà máy, khu công nghiệp và nhu cầu sử dụng điện theo tháng, quý là cơ sở để xác định đúng quy mô, thời điểm đầu tư lưới điện.

Cùng với phụ tải, thủy văn là biến số cần theo dõi sát. Thông tin công bố ngày 30/9/2026 của Cục Khí tượng Thủy văn cảnh báo El Niño có thể làm gia tăng nguy cơ nắng nóng, khô hạn và thiếu nước vào cuối năm 2026, đầu năm 2027. Điều này đòi hỏi phương án vận hành phải thường xuyên cập nhật theo diễn biến thực tế, đồng thời tính toán hài hòa nhu cầu phát điện và sử dụng nước ở hạ du.

Một trong những nhiệm vụ được EVN tập trung là chuẩn bị than từ sớm. Theo thông tin về buổi làm việc giữa EVN, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam và Tổng công ty Đông Bắc, NSMO đã xây dựng bốn phương án vận hành hệ thống điện quốc gia năm 2027. Việc cân đối huy động nguồn điện được tính toán gắn với yêu cầu giữ nước tại các hồ thủy điện cho mùa khô.

EVN yêu cầu các nhà máy phối hợp hoàn tất đàm phán, ký toàn bộ hợp đồng than antracite năm 2027 trong tháng 10/2026; nâng tồn kho lên mức tối đa ngay từ đầu tháng 3/2027. Các đơn vị cung cấp than được đề nghị chuẩn bị nguồn hàng, phương tiện vận chuyển và kiểm soát chất lượng. Đây là những mốc chuẩn bị cụ thể, cần được theo dõi bằng khối lượng hợp đồng và lượng than thực tế tại nhà máy.

Ở Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1), 6 nhà máy nhiệt điện dự kiến sản xuất khoảng 32,68 tỷ kWh trong năm 2027, tương ứng nhu cầu than khoảng 14,75 triệu tấn. EVN yêu cầu đẩy nhanh tiếp nhận, dự trữ than ngay trong tháng 10 và tháng 11/2026. Lịch sửa chữa tổ máy được đăng ký với NSMO theo hướng bố trí vào mùa lũ, duy trì khả năng huy động cao trong mùa khô. Các hồ thủy điện tiếp tục được theo dõi, tính toán vận hành và tích nước phù hợp.

Tổng công ty Phát điện 3 (EVNGENCO3) dự kiến sản xuất 32,6 tỷ kWh trong năm 2027, trong đó khoảng 20 tỷ kWh từ tháng 1 đến tháng 7. Phương án nhiên liệu gồm gần 8 triệu tấn than, khí thiên nhiên trong nước, khí tái hóa từ LNG nhập khẩu và dầu DO dự phòng cho các nhà máy tuabin khí.

Đáng chú ý, EVNGENCO3 rà soát lịch bảo dưỡng để hạn chế tối đa dừng tổ máy nhiệt điện từ ngày 1/4 đến 31/7/2027; duy trì lực lượng trực sửa chữa 24/24 giờ trong cao điểm, bổ sung vật tư thiết yếu và giám sát từ xa để phát hiện sớm bất thường.

Hiện các nhà máy điện đang tập trung các giải pháp, đảm bảo tối ưu các tổ máy, đáp ứng yêu cầu sản xuất điện cho cao điểm mùa khô 2027.

Hiện các nhà máy điện đang tập trung các giải pháp, đảm bảo tối ưu các tổ máy, đáp ứng yêu cầu sản xuất điện cho cao điểm mùa khô 2027.

Tại Tổng công ty Phát điện 2, kế hoạch sửa chữa lớn được tập trung vào những tháng cuối năm 2026 và đồng bộ với phương án vận hành năm 2027. EVN yêu cầu chuẩn bị đầy đủ nhân lực, vật tư, thiết bị dự phòng, giám sát chặt tình trạng tổ máy. Những công việc này quyết định khả năng chuyển công suất lắp đặt thành nguồn điện thực tế khi hệ thống cần huy động cao.

Đồng bộ lưới điện, tăng khả năng đáp ứng tại chỗ

Bên cạnh duy trì các nhà máy hiện hữu, tiến độ công trình mới cần gắn chặt với thời điểm phụ tải tăng cao. Trong nhiệm vụ quý IV/2026, EVN đặt mục tiêu đưa các công trình phục vụ nhập khẩu điện từ Trung Quốc tại khu vực Móng Cái vào vận hành trong quý II/2027, gồm Trạm biến áp 220 kV Móng Cái, đường dây 220 kV Hải Hà – Móng Cái và đường dây từ biên giới đến Hải Hà.

Trạm biến áp 220 kV Móng Cái đã triển khai thi công ngày 27/9/2026, phấn đấu hoàn thành trước mùa nắng nóng năm 2027. Để đạt mục tiêu này, việc giải quyết mặt bằng, bảo đảm thiết bị và tổ chức thi công cần được bám sát từng mốc. Mỗi công trình hoàn thành đúng hạn sẽ bổ sung khả năng cấp điện cho khu vực phụ tải và hỗ trợ tiếp nhận nguồn điện nhập khẩu.

Khả năng đáp ứng tại chỗ cũng đang được tăng cường bằng pin lưu trữ năng lượng (BESS). Đến ngày 28/9/2026, EVNNPC đã đóng điện 22 hệ thống BESS, tổng công suất 145 MW tại các trạm biến áp 110 kV. Chương trình của Tổng công ty gồm ba giai đoạn, tổng công suất dự kiến 530 MW tại 83 trạm. EVNNPC đang phối hợp với NSMO thống nhất phương thức vận hành, thời điểm sạc, xả và công suất huy động để hỗ trợ san tải, giảm áp lực giờ cao điểm.

Ở cấp điều hành, công văn 10790/VPCP-CN ngày 22/10/2026 truyền đạt yêu cầu của Thủ tướng về triển khai ngay các giải pháp bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2027–2030. Trong đó, điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu, lưu trữ năng lượng và sử dụng điện tiết kiệm được xác định là những giải pháp cấp bách. Các dự án nguồn, lưới phải có mốc tiến độ, trách nhiệm cụ thể; dự án không thể hoàn thành đúng yêu cầu cần được xem xét phương án thay thế.

Bảo đảm điện năm 2027 vì thế cần được đo bằng kết quả thực hiện từng tháng: nhiên liệu đã về kho, tổ máy sẵn sàng, hồ chứa được vận hành hợp lý, công trình đóng điện đúng hẹn và phụ tải được dự báo sát thực tế. Khi những phần việc ấy được kết nối bằng trách nhiệm rõ ràng, ngành điện mới có thêm dư địa ứng phó với thời tiết bất lợi và nhu cầu tăng cao.

Riêng 8 tháng năm 2026, giá trị khối lượng đầu tư toàn Tập đoàn ước đạt 76.820 tỷ đồng, bằng 62,2% kế hoạch; giải ngân đạt 69.535 tỷ đồng. EVN đã khởi công 118 công trình và đóng điện 116 công trình lưới điện từ 110-500 kV.

Theo EVN, từ nay đến cuối năm 2026, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là bảo đảm cung ứng đủ điện cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao.

Tuy nhiên, bài toán cung ứng điện cho giai đoạn tới được EVN đánh giá còn nhiều thách thức. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, công suất nguồn điện phục vụ nhu cầu trong nước đến năm 2030 tối thiểu phải đạt 183.291 MW. Như vậy, riêng giai đoạn 2026-2030 cần đưa thêm khoảng 93.000 MW nguồn điện vào vận hành.

Trong số này, EVN được giao đầu tư và dự kiến hoàn thành 6.066 MW nguồn điện cùng khoảng 1.700 MW hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS). Các chủ đầu tư ngoài EVN phải hoàn thành tối thiểu khoảng 85.000 MW. EVN đánh giá đây là thách thức rất lớn, cần các giải pháp quyết liệt, đồng bộ để thúc đẩy tiến độ các dự án.

Cần 830.000 tỷ đồng đầu tư giai đoạn 2026-2030

Để đáp ứng yêu cầu phát triển mới, EVN đặt mục tiêu giữ vững vai trò trụ cột bảo đảm an ninh cung ứng điện và an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng nhu cầu điện cho mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030.

Đến năm 2030, EVN đặt mục tiêu điện sản xuất và mua đạt 505 tỷ kWh, điện thương phẩm đạt 465 tỷ kWh, doanh thu khoảng 1,059 triệu tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư trong 5 năm dự kiến lên tới 830.000 tỷ đồng là thách thức lớn đối với EVN bởi  khả năng tích lũy và bố trí vốn chủ sở hữu còn hạn chế, trong khi các dự án điện có quy mô vốn lớn, thời gian xây dựng và thu hồi vốn dài.

Báo cáo tại buổi làm việc với Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vào ngày 15/9/2026, ông Đặng Hoàng An -Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam nhấn mạnh: “Nếu không có giải pháp tăng vốn chủ sở hữu và mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn, tiến độ một số dự án nguồn và lưới điện trọng điểm có thể bị ảnh hưởng, kéo theo tác động đến khả năng đáp ứng nhu cầu điện và mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia”.

Trước yêu cầu này, EVN kiến nghị hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách về điện lực, năng lượng và đầu tư xây dựng; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc về đất đai, giải phóng mặt bằng, môi trường đối với các công trình điện trọng điểm.

Về nguồn lực tài chính, EVN kiến nghị xem xét bổ sung vốn điều lệ tương xứng với nhiệm vụ và quy mô đầu tư 830.000 tỷ đồng; mở rộng khả năng tiếp cận vốn dài hạn trong và ngoài nước, tín dụng xanh, trái phiếu xanh và tài chính bền vững.

Ngay từ đầu năm 2026, nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã đẩy nhanh phát triển hệ thống điện mặt trời mái nhà, góp phần giảm áp lực lên hệ thống điện quốc gia. Ảnh hệ thống điện mặt trời tại Công ty CP bao bì Sông La Xanh, Hà Tĩnh.

Ngay từ đầu năm 2026, nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đã đẩy nhanh phát triển hệ thống điện mặt trời mái nhà, góp phần giảm áp lực lên hệ thống điện quốc gia. Ảnh hệ thống điện mặt trời tại Công ty CP bao bì Sông La Xanh, Hà Tĩnh.

Trong phát triển năng lượng tái tạo và tiết kiệm điện, lãnh đạo EVN đề xuất phải giao chỉ tiêu phát triển điện mặt trời mái nhà cho các địa phương để đạt 6.000MW trước mùa khô 2027, qua đó tháo gỡ điểm nghẽn thiếu nguồn, điển hình như Bắc Ninh, Quảng Ninh đã có nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hộ gia đình, đây là giải pháp vừa ngắn và dài hạn....

Đây được xem là những điều kiện quan trọng để EVN tăng tốc đầu tư hạ tầng điện, bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định, đồng thời thực hiện mục tiêu trở thành tập đoàn kinh tế nhà nước mạnh, quy mô lớn, tiên phong và dẫn dắt trong ngành năng lượng.

Ở khía cạnh khác, ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng giám đốc EVN đánh giá: Thách thức lớn nhất trong thời gian tới là cân đối cung cầu, đây là thách thức phải xây dựng nguồn điện nền, cho đến 2030 ước tính thiếu 21.000/28000 MW điện nền trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Đối với các dự án điện chi phí lớn, thời gian đầu tư kéo dài từ 5-7 năm từ lúc bắt đầu , các nhà đầu tư đều yêu cầu có cơ chế bảo lãnh. Nên về chính sách cần phải xem xét các yếu tố này để có cơ chế thu hút đầu tư.

Hiện các chi chi phí truyền tải điện hiện được tính trên cơ sở chi phí thực tế, trong khi nhiều công trình lưới điện đã được đầu tư từ trước nên mức chi phí còn thấp, khoảng 89 đồng/kWh tương đương 4%, trong khi các nước con số này từ 8-10%. Do vậy, cần có cơ chế phù hợp để bảo đảm nguồn lực đầu tư, phát triển lưới truyền tải.

Được biết, hiện EVN nắm giữ 26,8% công suất nguồn điện, dự kiến đến năm 2030 còn khoảng 24%, tổng tỷ trọng của EVN và TKV cũng chỉ khoảng 30%. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị và bảo đảm an sinh xã hội, các tập đoàn nhà nước cần được bảo đảm nguồn lực tương xứng.

Thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kế hoạch hành động tại Quyết định số 3035/QĐ-BCT, Bộ Công Thương dự kiến tổ chức Diễn đàn An ninh năng lượng Việt Nam năm 2026. Với chủ đề "Năng lượng tự chủ - Nền tảng cho kỷ nguyên tăng trưởng", diễn đàn dự kiến sẽ diễn ra vào ngày 10/11/2026 nhằm thảo luận các giải pháp chiến lược thúc đẩy tự chủ, bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển đất nước.

Theo Báo Công Thương