Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương
IGIP IGIP

Thứ năm, 24/09/2026 | 22:44

Tin hoạt động

Phát triển công nghiệp vật liệu theo hướng hiện đại, xanh và tự chủ có chọn lọc

24/09/2026
Ngày 24/9/2026, tại Hà Nội, Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW ngày 08/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam được tổ chức với sự tham gia của đại diện các cơ quan quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo. Tại Hội thảo, đại diện Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương đã trình bày một số định hướng trọng tâm trong quản lý nhà nước nhằm triển khai Kết luận số 83-KL/TW.
Tham dự Hội thảo có đại diện Ban Tuyên giáo Trung ương, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương, Viện Khoa học Vật liệu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trường Vật liệu - Đại học Bách khoa Hà Nội, Hội Vật liệu xây dựng cùng các chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu đến từ các cơ quan, đơn vị liên quan. Chương trình Hội thảo gồm các tham luận về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu, công tác quản lý nhà nước, nghiên cứu và ứng dụng vật liệu tiên tiến, đào tạo - nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực công nghệ vật liệu và trao đổi của các chuyên gia.

Hội thảo quy tụ nhiều đại diện các cơ quan quản lý Nhà nước, các chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu đến từ các cơ quan, đơn vị liên quan lĩnh vực công nghiệp Vật liệu

Về phía Cục Công nghiệp có đại diện Phó Cục trưởng Nguyễn Ngọc Thành và ông Nguyễn Minh Đức, Trưởng phòng Khoáng sản Luyện kim. Tại hội thảo, đại diện Cục đã trình bày tham luận “Một số nội dung định hướng của cơ quan quản lý Nhà nước để triển khai thực hiện Kết luận số 83-KL/TW ngày 08/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam”.

Từ lợi thế tài nguyên đến năng lực công nghệ và chuỗi giá trị

Theo tham luận của Cục Công nghiệp, công nghiệp vật liệu có vai trò cung cấp đầu vào cho hầu hết các ngành kinh tế, từ xây dựng, giao thông, năng lượng đến cơ khí chế tạo, điện tử, bán dẫn, công nghệ cao, y tế, quốc phòng và an ninh. Trình độ phát triển của ngành vì vậy gắn trực tiếp với khả năng làm chủ công nghệ, bảo đảm chuỗi cung ứng và mức độ tự chủ của nền kinh tế. Trong những năm qua, Việt Nam đã hình thành nền tảng sản xuất tương đối lớn ở một số nhóm vật liệu cơ bản. Tuy nhiên, năng lực giữa các khâu của chuỗi giá trị còn chưa đồng đều; nhiều loại vật liệu chất lượng cao, vật liệu đặc chủng và vật liệu phục vụ bán dẫn, điện tử, pin, năng lượng mới, công nghệ cao vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung bên ngoài. Các khâu như chế biến sâu, thiết kế vật liệu, sản xuất vật liệu chức năng, thử nghiệm, kiểm định và thương mại hóa công nghệ vẫn cần tiếp tục được củng cố.

Ông Nguyễn Minh Đức (Phòng KSLK, Cục Công nghiệp) chia sẻ tham luận

Kết luận số 83-KL/TW xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò đối với năng lực tự chủ chiến lược, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng làm chủ công nghệ lõi. Theo đó, định hướng phát triển cần chuyển từ khai thác lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu, từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu và từng bước làm chủ các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Từ góc độ quản lý nhà nước, Cục Công nghiệp cho rằng cần tiếp cận phát triển công nghiệp vật liệu theo toàn bộ chuỗi giá trị, từ nguyên liệu, khai thác, chế biến, tinh luyện, luyện kim đến sản xuất vật liệu, sản phẩm ứng dụng, thu hồi, tái chế và dự trữ. Đối với đất hiếm, mục tiêu không chỉ dừng ở khai thác hoặc sản xuất tinh quặng mà cần từng bước hình thành năng lực tách, tinh chế, sản xuất oxit riêng rẽ, kim loại, hợp kim và các sản phẩm ứng dụng có giá trị cao. Với bô-xít, cần phát triển sâu hơn chuỗi từ bô-xít, alumin đến nhôm, hợp kim nhôm và sản phẩm công nghiệp; đối với thép và kim loại cơ bản, trọng tâm cần chuyển dần sang thép chất lượng cao, thép kỹ thuật, hợp kim và vật liệu chuyên dụng.

Một quan điểm quan trọng được Cục Công nghiệp nhấn mạnh là không đồng nhất tự chủ với tự sản xuất toàn bộ. Tự chủ cần được hiểu là khả năng kiểm soát hoặc bảo đảm những khâu thiết yếu, hạn chế rủi ro phụ thuộc quá mức và duy trì khả năng ứng phó khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn. Các giải pháp có thể kết hợp sản xuất trong nước, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, hợp tác quốc tế, đầu tư ra nước ngoài, dự trữ, tái chế và phát triển vật liệu thay thế.

Hình thành các nền tảng cho năng lực công nghiệp vật liệu quốc gia

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là khẩn trương hoàn thiện Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược cần làm rõ phạm vi công nghiệp vật liệu, các nhóm và chuỗi giá trị ưu tiên, mức độ tự chủ cần thiết, những công nghệ cần làm chủ, vai trò của doanh nghiệp và thị trường, hạ tầng nghiên cứu - thử nghiệm, nguồn lực cũng như cơ chế tổ chức thực hiện. Song song với đó, cần xây dựng các nền tảng dùng chung của năng lực vật liệu quốc gia. Trong đó, cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành vật liệu phải phục vụ trực tiếp công tác quản lý, dự báo và hoạch định chính sách; phản ánh được nguồn nguyên liệu, năng lực sản xuất, công nghệ, doanh nghiệp, nhu cầu thị trường, mức độ phụ thuộc bên ngoài và rủi ro chuỗi cung ứng.

Về khoa học, công nghệ và hạ tầng nghiên cứu, định hướng đặt ra là tập trung nguồn lực vào các năng lực dùng chung trong nghiên cứu, thiết kế, mô phỏng, thử nghiệm, đo lường, kiểm định và đánh giá chất lượng vật liệu. Kết luận số 83-KL/TW đặt mục tiêu đến năm 2028 phấn đấu hình thành tối thiểu 3-5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia, trên cơ sở ưu tiên liên kết, nâng cấp và sử dụng hiệu quả năng lực hiện có. Cùng với đó, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, thử nghiệm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và đánh giá sự phù hợp cần từng bước được hoàn thiện theo hướng hài hòa với chuẩn mực quốc tế. Đào tạo nguồn nhân lực cần gắn với những công nghệ, vật liệu và chuỗi giá trị ưu tiên, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời thu hút chuyên gia trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế.
Tham luận cũng nhấn mạnh vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong việc chuyển hóa kết quả nghiên cứu và công nghệ thành năng lực sản xuất thực tế. Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cần gắn với những kết quả đầu ra cụ thể như năng lực công nghệ hình thành tại Việt Nam, hoạt động nghiên cứu và phát triển, chuyển giao và hấp thụ công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước, đào tạo nhân lực và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị. Đối với đầu tư nước ngoài, cần quan tâm nhiều hơn tới chất lượng công nghệ, năng lực nghiên cứu và phát triển cũng như mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Ngành công nghiệp vật liệu được hướng đến mục tiêu phát triển hiện đại, xanh, tự chủ có chọn lọc, có sức cạnh tranh, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Phát triển công nghiệp vật liệu đồng thời phải gắn với chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và an ninh chuỗi cung ứng. Hoạt động thu hồi, tái sử dụng và tái chế cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ môi trường mà còn như một nguồn cung vật liệu thứ cấp, góp phần giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nguyên sinh. Hợp tác quốc tế cần phục vụ trực tiếp cho việc hình thành năng lực trong nước, tập trung vào tiếp nhận và làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực, đa dạng hóa nguồn cung, xây dựng tiêu chuẩn, thu hút đầu tư chất lượng cao và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo các mốc triển khai được nêu trong tham luận, trong năm 2026 cần xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; năm 2027 hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành vật liệu; đến năm 2028 phấn đấu hình thành tối thiểu 3-5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia. Đến năm 2030, mục tiêu đặt ra là làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu pin và phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược đạt 50%.

Qua đó, việc triển khai Kết luận số 83-KL/TW hướng tới ba yêu cầu xuyên suốt: lựa chọn đúng trọng tâm, tổ chức được chuỗi giá trị và quản lý, đánh giá bằng kết quả; từng bước hình thành năng lực công nghiệp vật liệu quốc gia hiện đại, xanh, tự chủ có chọn lọc và có sức cạnh tranh, phục vụ phát triển các ngành công nghiệp chiến lược và công nghệ cao.

Hội thảo đã góp phần làm rõ hơn những định hướng lớn trong phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam theo tinh thần Kết luận số 83-KL/TW, đồng thời tạo diễn đàn để các cơ quan quản lý, nhà khoa học, cơ sở đào tạo, hiệp hội và chuyên gia trao đổi về những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong giai đoạn tới. Các ý kiến tại Hội thảo là nguồn tham khảo quan trọng phục vụ quá trình hoàn thiện chính sách, tổ chức triển khai các nhiệm vụ về khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, tiêu chuẩn - quy chuẩn, đầu tư, chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực tự chủ của ngành công nghiệp vật liệu.

Lý Quốc Thịnh