Thứ bảy, 20/06/2026 | 14:25
Thay vì được nhìn nhận riêng rẽ, các ngành công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo cần được tiếp cận như một chuỗi năng lực thống nhất, quyết định mức độ tự chủ của cả nền kinh tế. Trong đó, vật liệu cung cấp đầu vào cơ bản và chiến lược cho mọi ngành sản xuất còn cơ khí, chế tạo biến vật liệu và công nghệ thành máy móc, thiết bị, phương tiện phục vụ các ngành công nghệ cao. Năng lực của hai ngành này phản ánh trực tiếp khả năng độc lập, tự chủ và tự cường của một quốc gia.
Nhìn vào các chỉ số, ngành chế biến, chế tạo thời gian qua thực sự là điểm sáng của nền kinh tế. Khép lại năm 2025, giá trị tăng thêm toàn ngành đạt mức tăng 9,97% và chỉ số sản xuất tăng 10,5% - những con số ấn tượng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định. Đà tăng kể trên được tiếp tục trong năm 2026: chỉ trong năm tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp đã tăng 9,1%, riêng chế biến chế tạo tăng 9,5%, đặc biệt sản xuất kim loại bứt tốc tới 20,2% và sản xuất xe có động cơ tăng 18,0%.
Tuy nhiên, đằng sau những con số ấy là một thực tế cần được nhìn nhận thẳng thắn: tăng trưởng về quy mô vẫn chưa đi liền với tăng trưởng về hàm lượng nội địa và công nghệ. Hiện tại, phần lớn vật liệu chiến lược, thiết bị cao cấp và linh kiện điều khiển then chốt vẫn phải nhập khẩu. Càng tăng trưởng, mức độ phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài càng lớn - một nghịch lý sẽ trở thành điểm yếu nếu không được giải quyết sớm.
Ba tầng phát triển công nghiệp vật liệu
Để phát triển công nghiệp vật liệu một cách có hệ thống, cần phân loại theo ba tầng ưu tiên. Tầng thứ nhất là vật liệu cơ bản, nơi Việt Nam đã có nền tảng đáng kể: thép trên 30 triệu tấn/năm, xi măng trên 120 triệu tấn/năm, alumin khoảng 1,4 - 1,5 triệu tấn/năm từ hai tổ hợp Tân Rai và Nhân Cơ.
Đây là tầng có khối lượng lớn nhưng giá trị gia tăng thấp, áp lực môi trường cao. Nhiệm vụ được hướng tới là xanh hóa công nghệ, giảm phát thải, chuyển dần sang sản phẩm cao cấp hơn như thép điện kỹ thuật, thép hợp kim đặc chủng, hợp kim nhôm chất lượng cao, hóa chất điện tử.
Tầng thứ hai là vật liệu chiến lược - nơi cần tập trung đột phá. Đây là những vật liệu phục vụ các chuỗi công nghệ then chốt của tương lai: bán dẫn và điện tử, pin và lưu trữ năng lượng, đất hiếm và vật liệu từ, năng lượng mới, điện hạt nhân và quốc phòng. Đây là nhóm cần được tập trung nguồn lực nghiên cứu, đầu tư công nghệ lõi và phát triển chuỗi từ tài nguyên đến sản phẩm cuối cùng.
Tầng thứ ba là vật liệu tương lai: nhóm vật liệu siêu dẫn, vật liệu tự sửa chữa, vật liệu sinh học… Hiện tại, đây chưa phải ưu tiên cấp bách, nhưng cần đặt hàng nghiên cứu cơ bản từ sớm để chuẩn bị sẵn sàng cho 10-20 năm tới.

Ba tầng phát triển công nghiệp vật liệu là nền móng
Ba tầng này không phát triển song song với nguồn lực ngang nhau, mà cần được sắp xếp theo nhịp ưu tiên rõ ràng: giữ vững tầng cơ bản để tạo nguồn lực, đột phá tầng chiến lược để định hình vị thế, đặt nền móng tầng tương lai để chuẩn bị cho cuộc chơi dài hạn. Trong bối cảnh các cường quốc công nghệ ngày càng siết chặt quyền tiếp cận vật liệu chiến lược, đây là thời điểm Việt Nam cần chủ động chuẩn bị nguồn lực, công nghệ và nhân lực để sẵn sàng bước vào giai đoạn cạnh tranh mới với tâm thế của một quốc gia tự chủ.
Tập trung thay vì dàn trải với cơ khí chế tạo
Khác với vật liệu, cơ khí chế tạo là ngành rộng, bao gồm hàng trăm phân ngành khác nhau. Thực tiễn cho thấy cách tiếp cận dàn trải, hỗ trợ đồng đều cho tất cả các phân ngành dễ dẫn đến phân tán nguồn lực và hiệu quả không như kỳ vọng. Nhu cầu thị trường trong nước đến năm 2030 ước khoảng 310 tỷ USD, song doanh nghiệp trong nước hiện mới đáp ứng được gần một phần ba. Khoảng trống đó vừa là dư địa, vừa là cơ hội - nhưng chỉ có thể khai thác hiệu quả khi xác định đúng các phân ngành trọng điểm để tập trung đầu tư chiều sâu.
Trước hết là ô tô và phương tiện thế hệ mới. Thay vì đặt tỷ lệ nội địa hóa chung chung, cần xác định cụm linh kiện cụ thể có khả năng làm chủ: pin và hệ thống quản lý pin, mô-tơ điện, điện tử công suất, khuôn mẫu, phần mềm nhúng.

Bên trong nhà máy sản xuất Vinfast
Tiếp theo là cơ khí chính xác, khuôn mẫu, máy công cụ, robot tự động hóa - những sản phẩm quyết định năng suất của mọi ngành sản xuất khác và là khoảng trống lớn nhất hiện nay. Phân ngành thứ ba là thiết bị đường sắt gắn với dự án đường sắt tốc độ cao. Thứ tư là thiết bị năng lượng và năng lượng tái tạo - tua-bin gió, pin mặt trời, pin lưu trữ, thiết bị phụ trợ cho điện hạt nhân. Cuối cùng là cơ khí nền tảng phục vụ mỏ - luyện kim, nông nghiệp, chế biến, đóng tàu và công nghiệp ngoài khơi.

Việc xác định đúng các phân ngành ưu tiên là điều kiện cần, song chưa đủ. Để biến những định hướng này thành năng lực sản xuất thực sự, cần nhìn thẳng vào những điểm nghẽn đã tồn tại trong ngành cơ khí chế tạo nhiều năm qua: Doanh nghiệp còn phân tán, quy mô nhỏ; yếu về thiết kế, máy công cụ, thiết bị đồng bộ, điều khiển và tích hợp hệ thống; năng lực tiêu chuẩn, thử nghiệm và chứng nhận chưa đáp ứng nhiều chuỗi cung ứng cao cấp. Thị trường trong nước lớn nhưng cơ chế đặt hàng, phân chia gói thầu, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung ứng chưa đủ rõ từ giai đoạn chuẩn bị dự án.
Những điểm nghẽn này không tách rời nhau mà đan xen, hình thành một "nút thắt" tổng thể của ngành cơ khí chế tạo. Vì vậy, giải pháp không thể đến từ những can thiệp đơn lẻ, mà cần một cách tiếp cận hệ thống - bắt đầu từ việc nhìn nhận các dự án chiến lược quốc gia như “đơn hàng công nghiệp” để tạo thị trường dẫn dắt cho doanh nghiệp trong nước.
Dự án chiến lược là đơn hàng công nghiệp quốc gia
Các dự án đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, năng lượng tái tạo, trung tâm dữ liệu, bán dẫn và quốc phòng cần được nhìn nhận không chỉ là nhiệm vụ xây dựng, mà là “đơn hàng công nghiệp” của quốc gia, là cơ hội phát triển năng lực công nghiệp và hình thành doanh nghiệp dẫn dắt mới. Ngay từ giai đoạn chuẩn bị, cần xác định rõ phần việc doanh nghiệp trong nước có thể thực hiện, lộ trình nội địa hóa từng hạng mục, yêu cầu chuyển giao công nghệ cụ thể, kế hoạch đào tạo nhân lực và cơ chế phát triển nhà cung ứng Việt Nam.

Những dự án chiến lược như đường sắt tốc độ cao cần được xem như “đơn hàng công nghiệp” của quốc gia
Đi cùng với đó là các thay đổi cơ chế chính sách: xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu đến năm 2030 tầm nhìn 2045 và cập nhật Chiến lược phát triển cơ khí theo yêu cầu mới; chuyển từ hỗ trợ phân tán sang giao nhiệm vụ theo chuỗi sản phẩm với chỉ tiêu kết quả đo được; sử dụng đầu tư công và mua sắm công để tạo thị trường cho sản phẩm trong nước; đầu tư hạ tầng R&D-thử nghiệm-kiểm định dùng chung; phát triển doanh nghiệp quốc gia có năng lực dẫn dắt, sử dụng FDI như cầu nối công nghệ chứ không phải để thay thế doanh nghiệp Việt.
Công nghiệp vật liệu và cơ khí chế tạo không phải là câu chuyện của riêng một ngành, mà là phép thử cho khả năng tự chủ và sức cạnh tranh dài hạn của cả nền kinh tế. Việt Nam đang đứng trước một thời cơ chiến lược: thị trường nội địa đủ lớn, nguồn nhân lực đang trong giai đoạn dồi dào, vị trí địa - kinh tế thuận lợi và làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra cơ hội hiếm có.
Phát huy được những lợi thế này hay không phụ thuộc vào quyết tâm chính sách và sự đồng hành của cả Nhà nước, doanh nghiệp, viện - trường và người lao động. Đây không chỉ là bài toán phát triển kinh tế, mà còn là điều kiện tiên quyết để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành nước công nghiệp phát triển vào năm 2045.
Lý Quốc Thịnh
Việt Nam đang nổi lên là một trong những thị trường năng lượng tái tạo phát triển nhanh nhất châu Á, với gần 24 GW công suất năng lượng tái tạo đã vận hành và khoảng 7 GW điện gió. Trao đổi với VnEconomy bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Điện gió châu Á - Thái Bình Dương (APAC Wind Energy Summit 2026) tại Hà Nội, ông Girish Tanti, Phó Chủ tịch Tập đoàn Suzlon, cho rằng Việt Nam không chỉ là thị trường tiềm năng mà còn có thể trở thành trung tâm phát triển, dịch vụ và chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo
20/06/2026