Thứ năm, 11/06/2026 | 10:21
Đan Mạch có dân số chỉ 6 triệu người, nhưng sở hữu Vestas - một trong hai tập đoàn tuabin gió lớn nhất thế giới. Hàn Quốc bắt đầu phát triển điện gió muộn hơn châu Âu cả thập kỷ, nhưng nay đã có chuỗi cung ứng nội địa đủ sức xuất khẩu ra khu vực. Các hình mẫu này cho thấy thành công đến với các quốc gia biết biến thị trường nội địa thành nền tảng công nghiệp.
Tại phiên thảo luận "Tính tuần hoàn, chuỗi cung ứng và các khoáng sản quan trọng: Xây dựng ngành điện gió bền vững tại ASEAN" thuộc khuôn khổ APAC Wind Energy Summit 2026 diễn ra chiều 10/6, Cục trưởng Cục Công nghiệp Trần Việt Hòa đã chia sẻ về định hướng chính sách, khung pháp lý và cơ chế ưu đãi để thu hút đầu tư vào chuỗi cung ứng điện gió tại Việt Nam.
Cục trưởng Cục Công nghiệp Trần Việt Hòa chia sẻ tại APAC Wind Energy Summit 2026
Tín hiệu thị trường ổn định: điều kiện tiên quyết mà ưu đãi tài chính không thể thay thế
Mở đầu phần thảo luận, ông Trần Việt Hòa nhấn mạnh bài học từ thực tiễn quốc tế: đối với chuỗi cung ứng điện gió, tín hiệu thị trường ổn định có vai trò quan trọng tương đương, thậm chí đôi khi quan trọng hơn các điều kiện ưu đãi tài chính. Các nhà sản xuất thiết bị, nhà đầu tư cảng biển và đơn vị cung ứng dịch vụ chỉ sẵn sàng rót vốn khi nhìn thấy tầm nhìn dài hạn và lộ trình rõ ràng từ phía Nhà nước. Không có điều đó, mọi ưu đãi tài chính đều trở nên kém hiệu quả.
Từ nhận định trên, Cục Công nghiệp xác định ba nhóm công cụ chính sách trọng tâm.
Nhóm thứ nhất: Dự báo thị trường ổn định. Nhà đầu tư chuỗi cung ứng chỉ đưa ra quyết định khi nhìn thấy quy mô thị trường đủ lớn, lộ trình triển khai rõ ràng, tiêu chuẩn kỹ thuật ổn định và cơ chế mua bán điện, đấu thầu, lựa chọn nhà đầu tư có tính dự báo. Con số 17 GW công suất lắp của điện gió ngoài khơi vào năm 2035 không chỉ đơn thuần là mục tiêu phát triển nguồn điện sách mà chính là tín hiệu thị trường đủ mạnh để hình thành các năng lực công nghiệp chuyên biệt, nhất là trong các khâu cơ khí chế tạo, kết cấu thép, móng, tháp, cáp điện, thiết bị điện, cảng biển, logistics, khảo sát, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng. Theo các nghiên cứu quốc tế, mỗi GW điện gió ngoài khơi được triển khai có thể tạo từ 2.000-3.000 việc làm trực tiếp trong giai đoạn xây dựng và hàng trăm việc làm kỹ thuật dài hạn trong giai đoạn vận hành, bảo dưỡng.
Nhóm thứ hai: Phát triển năng lực công nghiệp nội địa. Trong giai đoạn đầu, Nhà nước hỗ trợ thông qua chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, đổi mới công nghệ, chứng nhận chất lượng, đào tạo nhân lực, R&D và thử nghiệm - kiểm định. Đây là những công cụ thiết yếu giúp doanh nghiệp trong nước vượt qua khoảng cách ban đầu về tiêu chuẩn và quản trị chất lượng để từng bước tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.
Định hướng không phải nội địa hóa bằng mọi giá, mà tập trung có trọng tâm vào các khâu Việt Nam có lợi thế cạnh tranh thực sự: kết cấu thép, móng và trụ điện gió, cáp điện, thiết bị điện, dịch vụ cảng biển, logistics, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng. Các mô hình liên doanh, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung cấp trong nước được khuyến khích để từng bước tiến sâu hơn vào các cấu phần công nghệ cao của chuỗi giá trị.
Nhóm thứ ba: Hạ tầng dùng chung. Điện gió ngoài khơi đòi hỏi hạ tầng đặc thù - cảng biển, bãi chế tạo, logistics siêu trường siêu trọng, thiết bị nâng hạ, trung tâm kiểm định và đào tạo - vượt quá năng lực của từng nhà đầu tư đơn lẻ. Thay vì đầu tư phân tán và lãng phí, Nhà nước sẽ hỗ trợ thiết lập hệ thống hạ tầng dùng chung, hình thành các trung tâm công nghiệp và dịch vụ năng lượng tái tạo đủ quy mô để phát huy hiệu ứng cộng hưởng.
Chính phủ kiến tạo qua hành lang pháp lý
Các định hướng trên được đặt trong một hệ thống chính sách vĩ mô ngày càng hoàn chỉnh. Ông Trần Việt Hòa chỉ ra nhiều nghị quyết quan trọng đã được đã được ban hành trong thời gian qua, bao gồm Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và đều xác định yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, phát triển công nghiệp chế tạo và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Các diễn giả quốc tế quan tâm tới sự phát triển điện gió bền vững tại Việt Nam và các công cụ chính sách, ưu đãi được áp dụng
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh cũng xác định phát triển điện gió ngoài khơi không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng mà còn là động lực hình thành các trung tâm công nghiệp và dịch vụ năng lượng tái tạo, thúc đẩy phát triển các ngành cơ khí chế tạo, thiết bị điện, vật liệu mới, logistics, cảng biển, dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi và công nghiệp hỗ trợ. Đây là cơ sở để từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tạo ra hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tái tạo hoàn chỉnh.
Chính phủ đồng thời triển khai các chương trình đổi mới công nghệ quốc gia, Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia, cùng các chương trình hỗ trợ chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đặc biệt, Luật Công nghiệp trọng điểm đang trong quá trình xây dựng sẽ tích hợp các chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp trọng điểm, trong đó có công nghiệp phục vụ năng lượng tái tạo.
Thực tiễn quốc tế đã chứng minh: điện gió không chỉ tạo ra điện năng mà còn tạo ra giá trị kinh tế rất lớn thông qua chuỗi cung ứng công nghiệp. Những mô hình thành công như Đan Mạch, Đức, Hàn Quốc… đều xây dựng được các tập đoàn công nghiệp năng lượng tầm cỡ toàn cầu xuất phát từ nền tảng thị trường nội địa.
Chương trình thảo luận quy tụ nhiều chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực năng lượng gió
Từ góc độ quản lý nhà nước, ưu tiên lớn nhất là phải coi phát triển chuỗi cung ứng điện gió là một nội dung của chính sách công nghiệp, chứ không chỉ là phần phụ trợ của các dự án điện. Điện gió có thể đóng góp cho an ninh năng lượng, nhưng giá trị lớn hơn về dài hạn là khả năng hình thành năng lực sản xuất, chế tạo, dịch vụ kỹ thuật, logistics, tiêu chuẩn, đào tạo nhân lực và việc làm chất lượng cao cho nền kinh tế.
Trong buổi làm việc về “Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu xây dựng nghị quyết mới về kinh tế biển với tầm nhìn dài hạn, tư duy đột phá, quản trị hiện đại, để biển trở thành động lực tăng trưởng nhanh, bền vững. Điều này cho thấy sự quan tâm sâu sát của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với kinh tế biển - nơi điện gió ngoài khơi được coi là trụ cột kinh tế biển xanh.
Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển điện gió: bờ biển dài, nền công nghiệp chế tạo đang trưởng thành và một thị trường nội địa đủ lớn để làm bệ phóng. Vấn đề còn lại, như ông Trần Việt Hòa nhấn mạnh, là phối hợp nhịp nhàng giữa Nhà nước và Doanh nghiệp: Nhà nước tạo khung chính sách, quy hoạch, tiêu chuẩn, hạ tầng thiết yếu và cơ chế điều phối; doanh nghiệp đưa vào công nghệ, vốn, quản trị, thị trường và tiêu chuẩn quốc tế.
Lý Quốc Thịnh
APAC Wind Energy Summit 2026 là diễn đàn thường niên do GWEC tổ chức, quy tụ các chuyên gia năng lượng, nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp hàng đầu khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tập trung thảo luận về lộ trình mở rộng quy mô điện gió và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững.
Trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN (AFF) 2026, các chuyên gia, học giả và giới chức trong và ngoài nước đã chia sẻ tầm nhìn để ASEAN hướng tới đảm bảo an ninh năng lượng - căn bản của nền kinh tế trong tương lai.
11/06/2026