Chủ nhật, 25/10/2026 | 18:16
Từ thu hút dòng vốn đến nâng cao giá trị tạo ra trong nước
Trong 8 tháng đầu năm 2026, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với hơn 21 tỷ USD, chiếm 51,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, LG, Toyota, Intel hay Hana Micron… đã góp phần đưa Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời tạo ra thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.
Tuy nhiên, quy mô sản xuất và xuất khẩu được mở rộng chưa đồng nghĩa với việc giá trị gia tăng tạo ra trong nước tăng tương ứng. Theo số liệu được Bộ Công Thương chia sẻ tại Hội thảo về phát triển công nghiệp hỗ trợ ngày 30/9/2026, năm 2025, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 17,12%, cao hơn mức tăng 16,27% của xuất khẩu. Cùng với thực trạng phụ thuộc vào nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng nhập khẩu ở nhiều ngành công nghiệp chủ lực, điều này đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cung ứng trong nước để tận dụng tốt hơn sự mở rộng của hoạt động sản xuất.
Bài toán được đặt ra không chỉ là tiếp tục thu hút thêm các dự án FDI mà quan trọng hơn là chuyển hóa sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia thành cơ hội phát triển năng lực công nghệ, năng suất và hệ thống doanh nghiệp Việt Nam. Đây cũng là sự chuyển dịch từ tư duy thu hút FDI sang nâng cao năng lực hấp thụ FDI, gắn hiệu quả đầu tư với mức độ lan tỏa đối với nền kinh tế trong nước.
Trong tham luận tại Hội thảo, Bộ Tài chính nhận định xu hướng dịch chuyển sản xuất theo chiến lược “Trung Quốc + 1” mở ra cơ hội đáng kể cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, tác động lan tỏa chỉ có thể phát huy khi doanh nghiệp sở tại đủ năng lực cung ứng nguyên vật liệu, linh kiện và dịch vụ hỗ trợ, đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất quốc tế.
Thực tế, khoảng cách giữa doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước và các tập đoàn đa quốc gia vẫn còn lớn. Theo số liệu thống kê, trong khoảng 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho các doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp nội địa chỉ chiếm khoảng 30%. Trong khi đó, khoảng 88% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có quy mô nhỏ và vừa, phần lớn còn hạn chế về vốn, công nghệ, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận thông tin thị trường.

Dây chuyền sản xuất module camera và linh kiện điện tử xuất khẩu tại nhà máy của Công ty trách nhiệm hữu hạn MCNEX VINA thuộc khu công nghiệp Phúc Sơn, tỉnh Ninh Bình. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)
Đặc biệt, việc trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn lớn không đơn thuần phụ thuộc vào năng lực sản xuất một loại linh kiện. Doanh nghiệp còn phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng, độ ổn định, tiến độ giao hàng, truy xuất nguồn gốc và khả năng cải tiến liên tục. Với những linh kiện có hàm lượng công nghệ cao, quá trình đánh giá và lựa chọn nhà cung ứng càng đòi hỏi thời gian, nguồn lực và năng lực kỹ thuật đáng kể.
Do đó, nếu chỉ tập trung vào ưu đãi tài chính hoặc các hoạt động kết nối giao thương đơn lẻ, sẽ khó giải quyết căn bản những khoảng cách về năng lực. Điều doanh nghiệp Việt Nam cần không chỉ là cơ hội tiếp cận khách hàng, mà còn là điều kiện để từng bước đáp ứng tiêu chuẩn, tham gia sản xuất và nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị.
Phát triển nhà cung ứng nội địa - chìa khóa nâng cao hiệu quả FDI
Yêu cầu tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước đã được xác định rõ trong Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết nhấn mạnh việc nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực FDI thông qua chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển nhà cung ứng nội địa, đồng thời đặt ra nhiệm vụ xây dựng chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước, thiết lập cơ sở dữ liệu và nền tảng kết nối giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam.
Cùng với đó, Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ tiếp tục xác định sản xuất sản phẩm thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển là ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 cũng chú trọng nâng cao năng lực công nghệ, quản trị chất lượng, đào tạo nhân lực và tăng cường kết nối doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp dẫn dắt.
Cục Công nghiệp làm việc với Samsung Việt Nam tháng 10/2026 nhằm đưa doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng
Để vừa thúc đẩy liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước vừa bảo đảm phù hợp với các cam kết quốc tế, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cần tiếp tục được triển khai, hoàn thiện theo hướng khuyến khích hợp tác trên cơ sở lợi ích hài hòa giữa các bên. Trong đó, chú trọng tạo động lực để doanh nghiệp FDI chủ động phát triển mạng lưới nhà cung ứng tại Việt Nam, tăng cường chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và kết nối sản xuất. Đồng thời, tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp từng bước đáp ứng yêu cầu của các chuỗi cung ứng toàn cầu bằng chất lượng sản phẩm, năng suất và năng lực công nghệ.
Vì vậy, hướng tiếp cận phù hợp là tạo động lực để doanh nghiệp FDI chủ động phát triển nhà cung ứng tại Việt Nam thông qua các cơ chế khuyến khích gắn với kết quả chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển sản phẩm và tăng cường liên kết. Đồng thời, cần tập trung nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực để có thể cạnh tranh và tham gia chuỗi cung ứng bằng chính chất lượng sản phẩm, năng suất và khả năng đáp ứng thị trường.
Từ góc độ phát triển công nghiệp, ba hướng ưu tiên cần được chú trọng là xác định những nhóm sản phẩm, linh kiện và công đoạn có khả năng nội địa hóa gắn với nhu cầu cụ thể của các tập đoàn lớn; hoàn thiện cơ sở dữ liệu và nền tảng kết nối cung - cầu để doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận thông tin, tiêu chuẩn và cơ hội tham gia chuỗi; đồng thời triển khai các chương trình nâng cấp nhà cung ứng về quản trị, công nghệ, chất lượng và nhân lực theo yêu cầu của doanh nghiệp đầu chuỗi.
Quan trọng hơn, các hoạt động hỗ trợ cần hướng tới kết quả có thể đo lường, như số lượng doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng mới, tỷ lệ sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, giá trị đơn hàng được thực hiện và mức độ gia tăng năng lực công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.
Trong bối cảnh dòng vốn FDI tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với phát triển công nghiệp, việc nâng cao năng lực hấp thụ và lan tỏa công nghệ sẽ quyết định mức độ tận dụng cơ hội của doanh nghiệp trong nước. Khi các dự án đầu tư lớn không chỉ tạo ra sản lượng và kim ngạch xuất khẩu mà còn thúc đẩy hình thành mạng lưới nhà cung ứng có năng lực, vị thế quốc gia sẽ chuyển từ một địa điểm sản xuất, lắp ráp quan trọng thành một mắt xích có giá trị cao hơn trong chuỗi công nghiệp toàn cầu.
Lý Quốc Thịnh
Các báo cáo công bố trong tháng 10/2026 cho thấy chế tạo toàn cầu mở rộng rõ hơn, trong khi áp lực giá vẫn hiện hữu. Với Việt Nam, tăng trưởng sản xuất công nghiệp ở mức cao cần được đặt cạnh tín hiệu chậm lại của đơn hàng để đánh giá triển vọng những tháng cuối năm.
25/10/2026