Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương
IGIP IGIP

Thứ hai, 10/08/2026 | 10:45

Công nghiệp tiêu dùng, thực phẩm

Ngành dệt may - da giày trước quy định mới về tiêu hủy hàng hóa của EU

09/08/2026
Từ ngày 19/7/2026, lệnh cấm tiêu hủy hàng hóa của Liên minh châu Âu (EU) chính thức có hiệu lực. Với các doanh nghiệp dệt may, da giày Việt Nam, đây không đơn thuần là một quy định môi trường mà mang tính bước ngoặt, đòi hỏi sự thay đổi từ gốc trong cách tổ chức sản xuất, quản trị đơn hàng và dữ liệu chuỗi cung ứng.

Quy định mang tính bước ngoặt của EU với ngành hàng dệt may - da giày

Trong nhiều năm, mô hình gia công của ngành dệt may - da giày Việt Nam vận hành trên nguyên tắc: nhận đơn hàng lớn, chu kỳ dài, sản xuất hàng loạt để tối ưu chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm. Phần hàng không bán được sẽ do nhãn hàng xử lý ở đầu kia của chuỗi cung ứng.

Quy định mới của EU khép lại đầu ra đó. Lệnh cấm tiêu hủy hàng hóa được ban hành trong khuôn khổ Quy định về thiết kế sinh thái cho sản phẩm bền vững (ESPR) và được cụ thể hóa bằng văn bản hướng dẫn do Ủy ban châu Âu thông qua tháng 2/2026. Theo đó, dệt may là nhóm sản phẩm đầu tiên bị áp dụng, khi Cơ quan Môi trường châu Âu ước tính có khoảng 4-9% sản phẩm dệt may đưa ra thị trường châu Âu bị tiêu hủy trước khi được sử dụng, tương đương 264.000-594.000 tấn hàng hóa mỗi năm.

Đống quần áo cũ bị thải bỏ trái phép tại Potsdam, Brandenburg, Đức, ngày 28/5. Ảnh: Reuters

Đống quần áo cũ bị thải bỏ trái phép tại Potsdam, Brandenburg, Đức, ngày 28/5. Ảnh: Reuters

Theo quy định, doanh nghiệp lớn không được tiêu hủy quần áo, phụ kiện may mặc và giày dép tồn kho, trừ một số trường hợp ngoại lệ như rủi ro an toàn hoặc sản phẩm hư hỏng nặng. Thay vì loại bỏ, doanh nghiệp được yêu cầu quản trị hàng tồn và xử lý hàng hoàn trả hiệu quả hơn, hướng tới bán lại, tái sản xuất, quyên góp hoặc tái sử dụng. Đáng chú ý, việc tiêu hủy chỉ nhằm mục đích tái chế như xé nhỏ quần áo tồn để thu hồi sợi… vẫn bị coi là hành vi tiêu hủy.

Khi việc tiêu hủy hàng tồn kho không còn là một lựa chọn hợp pháp, các nhãn hàng châu Âu buộc phải đặt hàng thận trọng hơn. Chiến lược chuyển dịch theo hướng bổ sung hàng hóa liên tục thay vì nhập một lượng lớn ngay từ đầu mùa, nhằm triệt tiêu hàng tồn kho dư thừa ngay từ khâu kế hoạch. Hệ quả trực tiếp đối với nhà cung ứng Việt Nam là quy mô mỗi đơn hàng nhỏ lại, số lượng đơn tăng lên, chu kỳ giao hàng ngắn hơn và yêu cầu về độ chính xác thời gian trở nên khắt khe hơn.

Từ ngày 19/7/2026, lệnh cấm áp dụng đối với các doanh nghiệp lớn - theo tiêu chí của EU là từ 250 lao động trở lên và doanh thu trên 50 triệu euro. Nhóm hàng thuộc phạm vi điều chỉnh gồm quần áo, phụ kiện may mặc, mũ và các loại giày dép, xác định theo mã hàng hóa cụ thể.

Doanh nghiệp quy mô vừa (từ 50 đến dưới 250 lao động, doanh thu không quá 50 triệu euro) có thời hạn chuẩn bị dài hơn: lệnh cấm sẽ áp dụng với nhóm này từ ngày 19/7/2030. Doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ hiện chưa thuộc phạm vi điều chỉnh, tuy nhiên EU để ngỏ khả năng mở rộng đối tượng nếu phát hiện tình trạng lách quy định thông qua các pháp nhân quy mô nhỏ.

Song song với lệnh cấm là nghĩa vụ công bố thông tin về khối lượng hàng tồn bị loại bỏ. Doanh nghiệp lớn phải thực hiện theo mẫu báo cáo chuẩn hóa từ tháng 2/2027; doanh nghiệp vừa thực hiện từ năm 2030.

bai-rac-thoi-trang-3-16854352415371873998140.jpg

Từ ngày 19/7/2026, lệnh cấm tiêu hủy hàng hóa của Liên minh châu Âu (EU) chính thức có hiệu lực.

Đối tượng chịu điều chỉnh trực tiếp là doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thị trường EU, không phải nhà máy gia công tại Việt Nam. Tuy nhiên, tác động đối với doanh nghiệp Việt Nam sẽ đến gián tiếp qua yêu cầu của khách hàng. Điều này tạo ra một lộ trình phân tầng có ý nghĩa thực tiễn với việc lập kế hoạch: các nhãn hàng lớn đã bắt đầu điều chỉnh cách đặt hàng từ tháng 7/2026, trong khi nhóm khách hàng quy mô vừa còn khoảng bốn năm chuẩn bị.

Doanh nghiệp Việt Nam vì vậy cần chủ động rà soát cơ cấu khách hàng theo quy mô để xác định phần đơn hàng chịu tác động ngay và phần còn dư địa thời gian, thay vì chuyển đổi đồng loạt toàn bộ năng lực sản xuất.

Chủ động thay đổi ứng phó áp lực kép

Lệnh cấm tiêu hủy hàng tồn không xuất hiện đơn lẻ. Theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội thế giới và trong nước tác động đến phát triển công nghiệp, năng lượng và thương mại Việt Nam tháng 7/2026 (CLCS-07-2026) của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công thương, trong tháng 7/2026 EU tiếp tục hoàn thiện đồng thời nhiều cơ chế: điều chỉnh Hệ thống giao dịch phát thải (EU ETS), cơ chế CBAM, Quy định chống phá rừng (EUDR) và Chỉ thị về thẩm định chuỗi cung ứng bền vững (CSDDD). Trong đó, CSDDD là điều kiện quan trọng để duy trì ưu đãi thương mại theo Hiệp định EVFTA và Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP).

Trong ngắn hạn, các doanh nghiệp dệt may, da giày đối mặt với chi phí tuân thủ cao hơn, thủ tục hải quan phức tạp hơn và yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về truy xuất nguồn gốc, phát thải và tính minh bạch của chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, còn tồn tại những áp lực về thuế quan đến từ các thị trường xuất khẩu chủ lực, dẫn tới việc ngành dệt may - da giày cùng lúc chịu áp lực từ hai hướng khác nhau: một bên bằng tiêu chuẩn xanh, một bên bằng thuế quan và truy xuất nguồn gốc lao động.

dệt may

Ngành dệt may - da giày Việt Nam cần chủ động thích ứng nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và tiếp tục phát triển bền vứng trước những thay đổi

Trước tình hình này, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công thương có gợi ý một số giải pháp cho các doanh nghiệp dệt may - da giày trong nước:

Thứ nhất, tái cấu trúc mô hình quản trị hàng tồn kho và chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp gia công Việt Nam cần chủ động phối hợp chặt chẽ với khách hàng EU để chuyển đổi từ mô hình sản xuất hàng loạt quy mô lớn sang sản xuất linh hoạt theo đơn đặt hàng nhỏ, chu kỳ ngắn.

Thứ hai, số hóa để rút ngắn thời gian giao hàng. Ứng dụng công nghệ thiết kế 3D và phần mềm quản trị ERP nhằm rút ngắn tối đa thời gian giao hàng, đáp ứng chiến lược bổ sung hàng hóa liên tục của các nhãn hàng.

Thứ ba, đầu tư vật liệu tuần hoàn và công nghệ truy xuất. Doanh nghiệp cần ưu tiên bố trí ngân sách R&D để thử nghiệm và đưa vào sản xuất các loại xơ sợi tái chế, sợi sinh học hữu cơ nhằm đáp ứng tiêu chí thiết kế sinh thái khắt khe của EU.

Thứ tư, chuẩn bị dữ liệu cho hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số. Doanh nghiệp cần hợp tác với các đơn vị cung cấp giải pháp blockchain để thiết lập nền tảng cung cấp dữ liệu cho hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số theo yêu cầu bắt buộc của EU, chứng minh rõ ràng nguồn gốc sợi dệt, hóa chất nhuộm và minh bạch hóa dòng đời sản phẩm.

Báo cáo CLCS-07-2026 cũng kiến nghị kịp thời phổ biến các quy định mới cập nhật của EU tới cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức các đợt tập huấn chuyên sâu và xây dựng tài liệu hướng dẫn về quy tắc xuất xứ, quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, môi trường, trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững.

Cùng với đó là yêu cầu đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống, đẩy mạnh khai thác các thị trường đã ký FTA như EU (EVFTA), Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia (CPTPP, RCEP), đồng thời tham gia các chương trình xúc tiến thương mại tại những khu vực còn nhiều dư địa như Trung Đông, Mỹ La-tinh và Nam Á.

Việc hoàn tất đàm phán Hiệp định thương mại tự do với khối EFTA ngày 02/7/2026, sau hơn một thập kỷ với 21 phiên chính thức, cũng mở thêm một kênh tiếp cận thị trường ổn định và minh bạch.

Lý Quốc Thịnh