Thứ sáu, 10/07/2026 | 02:32
1. Từ điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen đến thu giữ và lưu trữ carbon (CCS/CCUS), hàng loạt lĩnh vực mới đang hình thành và có nhu cầu khai thác, sử dụng không gian biển.
Sự phát triển của điện gió ngoài khơi, LNG, hydrogen hay công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS/CCUS) đang mở ra những nhu cầu sử dụng không gian biển. Điều này đặt ra một yêu cầu hoàn toàn mới đối với công tác quản lý nhà nước: từ quản lý từng ngành, từng dự án riêng lẻ sang quản trị tổng thể không gian biển như một nguồn lực chiến lược của quốc gia.
Thực tế cho thấy, không gian biển hiện nay đang ngày càng trở nên đa chức năng. Trên cùng một khu vực biển có thể đồng thời tồn tại các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; hệ thống đường ống dẫn khí; các dự án điện gió ngoài khơi; kho cảng LNG; các tuyến cáp truyền tải điện; khu vực lưu trữ carbon và các trung tâm dịch vụ kỹ thuật biển. Nếu thiếu một cách tiếp cận tổng thể, nguy cơ chồng lấn không gian, xung đột lợi ích và lãng phí nguồn lực là điều khó tránh khỏi.
![]() |
Đây cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng việc sửa đổi Luật Dầu khí cần được nhìn nhận vượt ra ngoài phạm vi của một đạo luật điều chỉnh hoạt động dầu khí truyền thống. Trong bối cảnh mới, dầu khí không còn là một ngành kinh tế độc lập mà ngày càng gắn kết với các lĩnh vực năng lượng khác trong một hệ sinh thái phát triển chung.
Theo TS Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy Văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường), xu hướng quốc tế hiện nay là phát triển các cụm công nghiệp - năng lượng biển đa mục tiêu, nơi dầu khí, điện gió ngoài khơi, hydrogen, CCS và các dịch vụ logistics cùng tồn tại, cùng khai thác hạ tầng và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Điều này cho thấy bài toán của tương lai không chỉ là khai thác được bao nhiêu dầu hay xây dựng thêm bao nhiêu MW điện gió, mà là tổ chức và quản trị hiệu quả không gian biển để phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn.
Việt Nam có những lợi thế đặc biệt để tham gia vào xu hướng này. Sau hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, ngành dầu khí đã xây dựng được hệ thống hạ tầng tương đối đồng bộ, từ các công trình ngoài khơi, đường ống dẫn khí, căn cứ dịch vụ kỹ thuật, cơ sở chế tạo biển đến đội ngũ kỹ sư và chuyên gia có trình độ cao. Đây không chỉ là tài sản của ngành dầu khí mà còn là nguồn lực chiến lược phục vụ phát triển các ngành năng lượng mới.
Trong bối cảnh đó, một trong những yêu cầu đặt ra đối với quá trình hoàn thiện thể chế là tạo cơ chế để sử dụng hiệu quả và linh hoạt các hạ tầng hiện có. Các công trình dầu khí ngoài khơi trong tương lai có thể trở thành nền tảng cho phát triển điện gió ngoài khơi, hydrogen hay CCS. Các trung tâm khí - điện hiện hữu có thể tiếp tục mở rộng sang LNG và các chuỗi năng lượng tích hợp. Những liên kết này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí đầu tư mà còn rút ngắn thời gian triển khai các dự án mới.
Xa hơn, việc khai thác hiệu quả không gian biển còn mở ra cơ hội hình thành các cực tăng trưởng công nghiệp - năng lượng mới ven biển. Đây là mô hình đã được nhiều quốc gia áp dụng nhằm tạo ra sự cộng hưởng giữa các ngành năng lượng, công nghiệp chế biến, logistics và dịch vụ kỹ thuật. Khi được kết nối bằng hạ tầng đồng bộ và cơ chế quản trị phù hợp, các cụm liên kết này có thể tạo ra giá trị kinh tế lớn hơn nhiều so với tổng giá trị của từng dự án riêng lẻ.
2. Theo PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, thách thức lớn nhất hiện nay không còn nằm ở việc khai thác thêm tài nguyên, mà ở năng lực quản trị. Biển là một không gian đa mục đích, nơi đồng thời diễn ra các hoạt động khai thác tài nguyên, giao thông hàng hải, du lịch, nuôi biển, bảo tồn sinh thái và các ngành năng lượng mới như điện gió ngoài khơi. Vì vậy, từ quản lý đơn ngành mà cần chuyển sang mô hình quản lý tổng hợp, liên ngành và dựa trên hệ sinh thái. Trong bối cảnh các ngành năng lượng biển phát triển nhanh, quy hoạch không gian biển phải trở thành công cụ điều phối phát triển, giải quyết các xung đột trong sử dụng không gian và tối ưu hóa nguồn lực quốc gia.
Vị chuyên gia cũng cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội hình thành các ngành kinh tế biển mới có giá trị gia tăng cao, trong đó có năng lượng tái tạo ngoài khơi. Song, để biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng thực sự, điều kiện tiên quyết là phải hoàn thiện thể chế theo hướng hiện đại, tích hợp và có khả năng thích ứng với những mô hình phát triển mới. Khi đó, biển không chỉ được nhìn nhận là nơi khai thác tài nguyên mà phải trở thành một không gian phát triển chiến lược của quốc gia, nơi hội tụ các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
![]() |
| Người lao động Petrovietnam làm việc tại công trình dầu khí ngoài khơi - một mắt xích quan trọng trong không gian kinh tế biển và hệ sinh thái năng lượng biển Việt Nam (ảnh: Trần Văn Quỳnh) |
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đó, yếu tố quyết định vẫn là thể chế. Không gian biển không thể được quản lý theo tư duy phân mảnh giữa các ngành, các lĩnh vực hay các cấp quản lý. Thay vào đó cần một cách tiếp cận tổng thể, bảo đảm sự phối hợp giữa quy hoạch biển, quy hoạch năng lượng, quy hoạch hạ tầng và các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.
Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam, một trong những điểm nghẽn hiện nay là cơ chế phân bổ và sử dụng không gian biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế biển mới. Trong bối cảnh điện gió ngoài khơi, LNG, dầu khí và nhiều ngành công nghiệp biển cùng phát triển, yêu cầu quản lý tổng hợp và thống nhất không gian biển đang trở thành vấn đề mang tính chiến lược của quốc gia.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu về điện, khí và các dạng năng lượng mới sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ. Hạ tầng và thể chế phát triển năng lượng nếu không đi trước một bước có thể tạo điểm nghẽn đối với nền kinh tế. Ngược lại, nếu xây dựng được cơ chế quản trị hiện đại cho không gian biển, Việt Nam không chỉ củng cố an ninh năng lượng mà còn có cơ hội hình thành những động lực tăng trưởng mới gắn với kinh tế biển và công nghiệp năng lượng.
Bởi vậy, sửa đổi Luật Dầu khí không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động dầu khí mà còn góp phần chuẩn bị nền tảng thể chế cho giai đoạn phát triển mới, khi không gian biển trở thành động lực của công nghiệp năng lượng hiện đại. Và khi đó, quản trị biển sẽ là một trong những bài toán chiến lược của quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.
| Việt Nam đang đứng trước cơ hội hình thành các ngành kinh tế biển mới có giá trị gia tăng cao. Song, để biến tiềm năng thành động lực tăng trưởng thực sự, điều kiện tiên quyết là phải hoàn thiện thể chế theo hướng hiện đại, tích hợp và có khả năng thích ứng với những mô hình phát triển mới. |
Hợp đồng EPC cho Dự án Nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đã chính thức được ký kết ngày 9/7, đưa dự án bước vào giai đoạn triển khai quan trọng.
09/07/2026