Thứ sáu, 30/10/2026 | 01:35
Ngày 29 - 30/10, HĐND TP. Hồ Chí Minh khóa XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức Kỳ họp thứ sáu (kỳ họp chuyên đề) với nhiều nội dung quan trọng. Trong đó, HĐND thành phố xem xét Tờ trình số 1514/TTr-UBND của UBND TP. Hồ Chí Minh về dự thảo nghị quyết quy định cơ chế, chính sách quản lý, đầu tư xây dựng và phát triển các khu công nghệ cao trên địa bàn.
Phát huy tiềm lực, tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế
Theo Tờ trình số 1514/TTr-UBND ngày 25/10/2026, TP. Hồ Chí Minh hiện có khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và khu công nghệ số tập trung. Các khu đã hình thành cơ sở sản xuất, nghiên cứu, đào tạo. Tuy nhiên, việc mở rộng đòi hỏi đổi mới quản lý và huy động vốn.
Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh có quy mô hơn 1.110 ha, bao gồm phần mở rộng bổ sung chức năng khu công viên khoa học và công nghệ. Theo UBND thành phố, khu có 166 dự án còn hiệu lực giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tổng vốn tương đương 13,755 tỷ USD; 112 dự án đang hoạt động. Giá trị sản xuất sản phẩm công nghệ cao lũy kế ước đạt 201,167 tỷ USD, xuất khẩu đạt 190,484 tỷ USD, thu hút 53.678 lao động.

Toàn cảnh Công viên phần mềm Quang Trung (TP. Hồ Chí Minh), nơi tập trung các doanh nghiệp công nghệ số, góp phần thúc đẩy thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Công viên phần mềm Quang Trung rộng 43 ha, có 118 doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động, cung cấp hơn 650 sản phẩm, dịch vụ và giải pháp, xuất khẩu đến hơn 30 quốc gia. Khoảng 22.157 người thường xuyên học tập, làm việc tại đây. Đây là nền tảng phát triển phần mềm và dịch vụ số.
Hệ thống khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao có tổng quy mô hơn 1.754 ha, gồm một khu hiện hữu và sáu khu được thành lập mới. Khu hiện hữu tại Nhuận Đức có 14 nhà đầu tư tham gia. Ban quản lý đã ghi nhận 56 nhà đầu tư có nhu cầu thuê khoảng 1.593,5 ha đất, với tổng vốn dự án dự kiến khoảng 5.970,749 tỷ đồng. Nhu cầu này đòi hỏi hạ tầng đồng bộ.
Theo UBND thành phố, hệ thống pháp luật hiện còn thiếu quy định đầy đủ về quản trị khu công nghệ cao theo hướng tự chủ, linh hoạt; huy động vốn xã hội hóa cho hạ tầng nghiên cứu; hỗ trợ hoạt động R&D, chuyển giao công nghệ và thử nghiệm mô hình mới. Những điểm nghẽn này cần được xử lý để kết nối hiệu quả hơn giữa khu sản xuất, cơ sở nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Từ thực tiễn đó, UBND thành phố đề xuất nghị quyết cụ thể hóa Điều 32 Luật Phát triển đô thị. Phạm vi không chỉ giới hạn ở khu công nghệ cao truyền thống mà còn bao quát khu công nghệ số tập trung, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các loại hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao theo quy định. Các chính sách chung sẽ được áp dụng thống nhất, còn đặc thù từng loại hình thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.

TP. Hồ Chí Minh đề xuất cơ chế đặc thù nhằm thu hút đầu tư, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung cơ chế tổ chức không gian, sử dụng đất trong khu công nghệ cao. Các khu chức năng nghiên cứu, sản xuất được phân định với khu dịch vụ và hạ tầng xã hội hỗ trợ; cho phép bố trí đất sử dụng hỗn hợp nhưng có giới hạn đối với hoạt động thương mại, dịch vụ. Mục tiêu là đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, người lao động mà không làm thay đổi chức năng chính của khu.
Định hướng được đặt ra không chỉ là mở rộng diện tích, mà còn hình thành chuỗi liên kết nghiên cứu, đào tạo, sản xuất, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ. Đây là cơ sở để các khu công nghệ cao chuyển từ thu hút dự án dựa vào hạ tầng sang cạnh tranh bằng năng lực đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và giá trị sản phẩm.
Mở rộng nguồn lực, ưu tiên đầu tư và đổi mới quản trị
Trọng tâm dự thảo là mở rộng nguồn lực phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh vốn đầu tư công, hợp tác công tư và các nguồn vốn hợp pháp khác, thành phố đề xuất hỗ trợ lãi suất đối với doanh nghiệp đầu tư hạ tầng công nghệ dùng chung. Hạ tầng này phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm và khai thác chung.
Theo tờ trình, việc hỗ trợ phải gắn với điều kiện sử dụng chung và nguyên tắc không hỗ trợ trùng lặp. Mục tiêu là khuyến khích tư nhân đầu tư thiết bị nghiên cứu, sử dụng ngân sách đúng mục tiêu. Tờ trình chưa nêu mức hỗ trợ lãi suất cụ thể.
Một chính sách đáng chú ý khác là hỗ trợ dự án đầu tư trọng điểm trong khu công nghệ cao. Dự thảo đề xuất xác định nhóm dự án, quy mô vốn và yêu cầu về vốn chủ sở hữu làm căn cứ lựa chọn. Nội dung hỗ trợ tập trung vào đào tạo nhân lực, nghiên cứu và phát triển, đầu tư tạo tài sản cố định và hạ tầng xã hội phục vụ trực tiếp người lao động tại dự án.
Chính sách được xây dựng theo mức hỗ trợ, điều kiện và nguyên tắc tránh trùng lặp, thay vì ưu đãi dàn trải. Tiêu chí lựa chọn minh bạch sẽ giúp doanh nghiệp dự tính khả năng tiếp cận chính sách.
Về thủ tục, dự thảo đề xuất cơ chế một cửa, một cửa liên thông đối với hoạt động đầu tư. Cơ quan quản lý khu công nghệ cao là đầu mối tiếp nhận, hướng dẫn, giải quyết hoặc phối hợp giải quyết hồ sơ; đồng thời trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan có thẩm quyền. Mục tiêu là giảm chồng chéo, rút ngắn thời gian xử lý.

TP. Hồ Chí Minh đề xuất cơ chế huy động nguồn lực phát triển đồng bộ hạ tầng các khu công nghệ cao, nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư.
Dự thảo cũng đề cập liên kết, chia sẻ hạ tầng số, thiết bị, dữ liệu và nguồn lực dùng chung giữa các khu công nghệ cao. Các đơn vị có thể kết nối R&D, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ. Qua đó hạn chế đầu tư trùng lặp, mở rộng khả năng tiếp cận hạ tầng.
Đối với quản trị, dự thảo quy định cơ chế đánh giá dự án đầu tư, sử dụng hội đồng hoặc chuyên gia độc lập khi cần thiết; theo dõi việc duy trì các điều kiện của dự án và điều kiện hưởng hỗ trợ. Thành phố dự kiến xây dựng cơ sở dữ liệu chung về nhà đầu tư, dự án, phục vụ kiểm tra, giám sát và hậu kiểm. Việc quản lý đất đai, môi trường cũng được chú trọng.
UBND thành phố nhấn mạnh nguy cơ ưu đãi sai đối tượng, cơ chế “xin - cho”, thất thoát nguồn lực đất đai và ngân sách. Kinh phí hỗ trợ phải dựa trên chi phí thực tế đủ điều kiện, dự toán được giao và khả năng cân đối; không thanh toán hai lần cho cùng nội dung. Ngoài ngân sách, các nguồn lực có thể huy động gồm vốn doanh nghiệp, vốn vay, tài trợ và những nguồn hợp pháp khác.
Về lâu dài, chính sách hướng tới tăng sức hút đầu tư công nghệ cao, mở rộng hoạt động R&D, tạo việc làm chất lượng cao và phát triển công nghiệp dựa trên tri thức.
Theo Tờ trình số 1514/TTr-UBND, TP. Hồ Chí Minh hướng tới trở thành trung tâm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc tế, đóng vai trò hạt nhân kết nối các cụm đổi mới sáng tạo của vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Các khu công nghệ cao được định hướng phát triển theo mô hình xanh, thông minh, bền vững, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
TP. Hồ Chí Minh đề xuất cơ chế mới về đầu tư hạ tầng, hỗ trợ dự án trọng điểm và quản trị khu công nghệ cao, nhằm thu hút vốn, nâng năng lực công nghệ.
29/10/2026