Cục Công nghiệp - Bộ Công Thương
IGIP IGIP

Thứ sáu, 07/08/2026 | 04:07

Thông báo

Nhận biết dấu hiệu và các bước chuẩn bị hồ sơ yêu cầu điều tra phòng vệ thương mại đối với lĩnh vực công nghiệp

06/08/2026
Đại diện Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, một bộ hồ sơ đề nghị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và điều tra chống bán phá giá nói riêng bao gồm 04 nội dung quan trọng mà doanh nghiệp, hiệp hội muốn sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích của mình cần lưu ý.

Việc sử dụng công cụ phòng vệ thương mại đối với lĩnh vực công nghiệp cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển của ngành, qua đó tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và điều kiện cần thiết để doanh nghiệp đầu tư đổi mới, nâng cao năng lực sản xuất.

hội nghị
Hội nghị bàn tròn "Sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại trong phát triển ngành công nghiệp và công nghiệp hóa chất bền vững" do Cục Phòng vệ thương mại phối hợp với Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 6/8/2026 tại TP. Hồ Chí Minh.

Để một vụ việc phòng vệ thương mại được xem xét điều tra, ngành sản xuất trong nước cần cung cấp được các thông tin, chứng cứ liên quan đến hàng hóa nhập khẩu, tình hình sản xuất, mức độ thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hàng hóa nhập khẩu với thiệt hại của ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp hiện vẫn gặp khó khăn trong việc nhận biết dấu hiệu, xác định phạm vi sản phẩm, thu thập số liệu và chuẩn bị hồ sơ yêu cầu điều tra.

Nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp nhận diện rõ hơn các dấu hiệu cần quan tâm và những nội dung cần chuẩn bị cho các vụ việc, tại Hội nghị bàn tròn "Sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại trong phát triển ngành công nghiệp và công nghiệp hóa chất bền vững" do Cục Phòng vệ thương mại phối hợp với Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 6/8/2026, ông Tô Thái Ninh - Trưởng phòng Phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp, Cục Phòng vệ thương mại đã trình bày báo cáo: “Nhận biết dấu hiệu và hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ yêu cầu điều tra phòng vệ thương mại đối với lĩnh vực công nghiệp”.

tô thái ninh
Ông Tô Thái Ninh - Trưởng phòng Phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp, Cục Phòng vệ thương mại trao đổi về vấn đề:“Nhận biết dấu hiệu và hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ yêu cầu điều tra phòng vệ thương mại đối với lĩnh vực công nghiệp”.

Theo ông Tô Thái Ninh, cùng với mức độ hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới (17 FTA đang thực thi và khoảng 3 FTA đang đàm phán), bên cạnh những thuận lợi cũng tạo ra sức ép lớn cho hoạt động sản xuất trong nước, nhất là những ngành công nghiệp nền tảng có mức độ đầu tư lớn.

Sở dĩ gây ra sức ép lớn như vậy do những quốc gia đối tác đi trước có mức độ đầu tư rất lớn vào những sản phẩm này. Khi thời gian đầu tư của họ dài, năng lực cạnh tranh và các yếu tố về giá cả, chi phí sản xuất của họ đã được tối ưu qua một thời gian rất dài (chi phí khấu hao thấp, công nghệ đi trước chúng ta rất nhiều). Do đó, họ có lợi thế cạnh tranh rất lớn. Khi hàng hóa của họ nhập khẩu vào Việt Nam với mức thuế thấp, gần như sẽ gây ra sức ép lớn cho các ngành công nghiệp nền tảng của chúng ta như thép, hóa chất...

Thực tế đó đặt ra nhu cầu sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại để các ngành sản xuất trong nước bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Ông Tô Thái Ninh cho biết, nhu cầu sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa của các doanh nghiệp sản xuất trong nước đã gia tăng rất mạnh trong thời gian gần đây. Trong quá trình các doanh nghiệp, ngành sản xuất trong nước nộp hồ sơ đề nghị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại lên Bộ Công Thương, Cục Phòng vệ thương mại nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp và yêu cầu hướng dẫn làm thế nào để chuẩn bị, xây dựng một bộ hồ sơ đề nghị điều tra hiệu quả, hợp lý và kịp thời nhất...

Từ thực tiễn trên, Trưởng phòng Phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp (Cục Phòng vệ thương mại) đã chia sẻ một số thông tin lưu ý cho các doanh nghiệp, các hiệp hội khi xem xét, tính toán đến việc sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.

3 dấu hiệu nhận biết cần sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Để các doanh nghiệp, hiệp hội hoặc đơn vị, cá nhân quan tâm nhận biết khi nào cần sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại, theo ông Tô Thái Ninh, có 03 dấu hiệu chính cần lưu ý.

Một là, sự gia tăng đột biến của lượng hàng hóa nhập khẩu: Hàng hóa nhập khẩu cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa sản xuất trong nước có sự gia tăng rất lớn trong một khoảng thời gian ngắn vào thị trường Việt Nam, gây sức ép cho hoạt động sản xuất kinh doanh của chúng ta.

Hai là, xu hướng giảm giá của hàng hóa nhập khẩu: Xu hướng giá nhập khẩu của hàng hóa đó giảm liên tục. Mức giá nhập khẩu giảm này gây áp lực khiến giá bán trong nước của chúng ta cũng phải điều chỉnh giảm theo để có thể cạnh tranh và bán được hàng.

Ba là, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước đi xuống: Do tác động gián tiếp từ hai yếu tố trên, các chỉ số hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành sản xuất trong nước có dấu hiệu suy giảm rõ rệt. Điều này thể hiện qua các chỉ số như: hoạt động sản xuất, tình hình bán hàng, doanh thu, lợi nhuận giảm, hoặc lượng tồn kho của ngành sản xuất trong nước tăng cao...

Khi nhận thấy có những dấu hiệu như thế này, tức là hàng hóa nhập khẩu đang gây ra những khó khăn cho các doanh nghiệp nói riêng và toàn ngành nói chung, chúng ta cần nghiên cứu đến việc sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.

tô thái ninh 2
Ông Tô Thái Ninh chia sẻ 03 dấu hiệu chính cần lưu ý khi cần sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại

Bốn trụ cột quan trọng trong hồ sơ đề nghị điều tra chống bán phá giá

Ông Tô Thái Ninh cho biết, theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), có 03 biện pháp phòng vệ thương mại chính: Biện pháp tự vệ; biện pháp chống bán phá giá; biện pháp chống trợ cấp. Ngoài ra, thời gian gần đây còn có thêm biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại. 

Trong số 03 biện pháp chính nêu trên, biện pháp có mức độ phức tạp nhất và có tần suất được các quốc gia trên thế giới cũng như các doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên sử dụng nhiều nhất là biện pháp chống bán phá giá.

Đi sâu tập trung phổ biến cách thức xây dựng được một bộ hồ sơ đề nghị tiến hành điều tra vụ việc chống bán phá giá đầy đủ và chặt chẽ nhất theo quy định của pháp luật, ông Tô Thái Ninh cho biết: Một bộ hồ sơ đề nghị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và điều tra chống bán phá giá nói riêng bao gồm 04 nội dung đặc biệt quan trọng mà doanh nghiệp, hiệp hội muốn sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích của mình cần lưu ý.

Trụ cột 1: Xác định phạm vi sản phẩm (hàng hóa đề nghị điều tra)

Vấn đề quan trọng nhất, thiết yếu nhất đó là chúng ta phải xác định rõ phạm vi sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu cần điều tra và áp dụng biện pháp là gì (tức là chúng ta cần chặn đối với hàng hóa nhập khẩu nào).

Để xác định phạm vi sản phẩm, chúng ta cần quan tâm đến hai yếu tố: (i) Đặc tính kỹ thuật, lý hóa của sản phẩm nhập khẩu so với hàng hóa sản xuất trong nước để xem xét tính tương đồng của hai sản phẩm; (ii) Mô tả mã HS của hàng hóa nhập khẩu trên biểu thuế nhập khẩu của cơ quan Hải quan.

Việc xác định phạm vi sản phẩm chính xác có tác động rất lớn đến việc xây dựng được hồ sơ đề nghị vụ việc.

Nếu xác định phạm vi quá hẹp, số lượng doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đó tham gia vụ việc sẽ bị thu hẹp, ảnh hưởng đến tính đại diện khi nộp hồ sơ; hoặc nếu xác định phạm vi quá rộng cũng sẽ ảnh hưởng đến việc xác định tính đại diện của các doanh nghiệp khi nộp hồ sơ; đồng thời, mức độ bảo vệ sẽ không tuyệt đối, dễ dẫn đến hành vi lẩn tránh thuế.

Ông Tô Thái Ninh nêu ví dụ điển hình là vụ việc điều tra sản phẩm thép cán nóng hoàn thành vào năm 2025, ngành sản xuất trong nước đề nghị áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với thép cán nóng có khổ rộng từ 1880 mm trở xuống. Ngay sau khi Bộ Công Thương áp dụng biện pháp chống bán phá giá, lượng nhập khẩu thép cán nóng có khổ rộng trên 1880 mm lập tức gia tăng rất lớn để thay thế cho khổ nhỏ. Nhà nhập khẩu chỉ thực hiện một công đoạn đơn giản là xả băng (cắt đôi ra) để sử dụng thay thế cho sản phẩm dưới 1880 mm đã bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Do đó, việc xác định phạm vi hàng hóa điều tra quyết định trực tiếp đến sự thành bại của vụ việc.

Mặt khác, nếu xác định phạm vi không chính xác sẽ ảnh hưởng đến việc xác định ngành sản xuất trong nước và tính đại diện. Đại diện Cục Phòng vệ thương mại nêu ví dụ với sản phẩm hóa chất nhựa, nếu chúng ta chỉ đề nghị điều tra đối với nhựa nguyên sinh thì sẽ đặt ra câu hỏi đối với nhựa tái chế. Nếu chỉ đưa các doanh nghiệp sản xuất nhựa nguyên sinh vào đại diện đứng đơn mà không đưa các doanh nghiệp sử dụng công nghệ tái chế vào thì sẽ ảnh hưởng đến việc xác định ngành sản xuất trong nước. Thực tế, việc phân biệt giữa nhựa nguyên sinh và nhựa tái chế khi đã thành phẩm là rất khó vì bản chất thành phần vật lý tương tự nhau, chỉ khác quy trình sản xuất. Nếu chúng ta điều tra sản phẩm nhựa nói chung, số lượng doanh nghiệp tham gia sẽ lớn và đảm bảo yêu cầu nộp hồ sơ. Nếu chỉ chọn một phân khúc hẹp, trên thị trường có thể chỉ có một đến hai doanh nghiệp tham gia, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tính đại diện và tư cách khi nộp hồ sơ.

Theo quy định áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại có quy tắc xác định tính đại diện (Quy tắc 25/50), tức là để hồ sơ được chấp nhận điều tra, doanh nghiệp nộp hồ sơ phải đáp ứng tính đại diện theo quy tắc 25/50:

Ngưỡng 25%: Tổng sản lượng của các doanh nghiệp nộp hồ sơ (hoặc ủng hộ hồ sơ) phải chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng của ngành sản xuất trong nước đối với sản phẩm đó.

Ngưỡng 50%: Sản lượng của các doanh nghiệp nộp và ủng hộ hồ sơ phải lớn hơn sản lượng của các doanh nghiệp phản đối việc nộp hồ sơ trong số các doanh nghiệp có ý kiến. Ví dụ: Ngành có 10 doanh nghiệp, 3 doanh nghiệp nộp hồ sơ chiếm 40% sản lượng ngành (đạt ngưỡng trên 25%). Trong số 10 doanh nghiệp này, chỉ có 7 doanh nghiệp đưa ra ý kiến (3 doanh nghiệp nộp hồ sơ, 4 doanh nghiệp phản đối, 3 doanh nghiệp còn lại không có ý kiến). Để hồ sơ hợp lệ, tổng sản lượng của 3 doanh nghiệp nộp hồ sơ phải lớn hơn tổng sản lượng của 4 doanh nghiệp phản đối.

Trụ cột 2: Chứng minh hành vi bán phá giá

Chúng ta phải chứng minh được hàng hóa nhập khẩu đang được bán phá giá vào thị trường Việt Nam. Hành vi bán phá giá được xác định khi hàng hóa từ quốc gia xuất khẩu được bán vào Việt Nam với giá thấp hơn giá bán của chính hàng hóa đó tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu. Ví dụ, một sản phẩm bán tại thị trường nội địa một nước với giá 12 đồng, nhưng sản phẩm đó của họ xuất khẩu sang Việt Nam chỉ với giá 10 đồng thì sản phẩm đó được coi là bán phá giá sang thị trường Việt Nam.

Để chứng minh hành vi này, hồ sơ phải thu thập và so sánh hai mức giá: Giá xuất khẩu và Giá trị thông thường (giá bán nội địa tại nước xuất khẩu).

Việc thu thập giá xuất khẩu tương đối dễ dàng, doanh nghiệp có thể dựa trên dữ liệu nhập khẩu của cơ quan Hải quan Việt Nam, theo mô tả sản phẩm đã khoanh vùng ở bước 1 mà chúng ta đã xác định được phạm vi sản phẩm điều tra.

Xác định giá trị thông thường (Giá bán nội địa tại nước xuất khẩu): Đây là nội dung rất khó khăn vì doanh nghiệp, hiệp hội phải thu thập dữ liệu giao dịch trong quá khứ của nước bạn. Qua thực tiễn các vụ việc, ông Tô Thái Ninh chia sẻ có 03 cách để thu thập thông tin này:

Cách 1 (Bằng chứng trực tiếp và chắc chắn nhất): Thu thập hóa đơn bán hàng (bán buôn hoặc bán lẻ) của sản phẩm đó tại thị trường nước xuất khẩu thông qua đối tác thương mại. Cách này rất khó vì không phải doanh nghiệp nào cũng có mạng lưới đối tác tại nước xuất khẩu để lấy hóa đơn, tuy nhiên đây cũng là một trong những bằng chứng rõ ràng và khách quan chắc chắn nhất để thu thập thông tin về giá trị thông thường.

Cách 2 (Sử dụng nước thứ ba): Sử dụng giá xuất khẩu của sản phẩm đó từ nước xuất khẩu sang một nước thứ ba (ví dụ thu thập giá xuất khẩu của Trung Quốc sang Thái Lan hoặc Hàn Quốc). Doanh nghiệp có thể khai thác dữ liệu hải quan công bố của nước thứ ba hoặc mua từ các đơn vị cung cấp dữ liệu thương mại quốc tế lớn như IHS (cung cấp chi tiết các giao dịch toàn cầu).

Cách 3 (Tự xây dựng giá trị thông thường): Phương pháp này dựa trên thông tin tính toán chi phí sản xuất, chi phí bán hàng chung và một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý. Doanh nghiệp tìm kiếm thông tin về chi phí nguyên liệu đầu vào để sản xuất ra sản phẩm đó tại nước xuất khẩu, kết hợp với chi phí sản xuất, chi phí chung của chính doanh nghiệp mình (nếu chứng minh được sự tương đồng về công nghệ và các yếu tố sản xuất) để làm căn cứ xây dựng thành chi phí sản xuất ước tính, sau đó cộng thêm chi phí bán hàng và tỷ lệ lợi nhuận hợp lý để tính toán ra được giá bán giả định.

"Đây là phần khó khăn nhất khi xây dựng hồ sơ đề nghị điều tra chống bán phá giá vì toàn bộ dữ liệu, thông tin phải truy xuất trong quá khứ. Trước đây, Cơ quan điều tra có phần linh hoạt hơn trong việc chấp nhận các bằng chứng của doanh nghiệp khi nộp hồ sơ lên. Tuy nhiên hiện nay, để đảm bảo tuân thủ chặt chẽ hơn quy định của pháp luật Việt Nam và WTO, đồng thời tránh việc bị các nước xuất khẩu phản biện sâu khi nộp hồ sơ, yêu cầu tiêu chuẩn đối với hồ sơ đã được nâng cao rõ rệt. Đó là lý do gần đây nhiều hồ sơ bị trả về để yêu cầu bổ sung, hoàn thiện. Tuy nhiên khi đã vượt qua được bước chuẩn bị dữ liệu này thì phần việc khó khăn nhất coi như đã hoàn thành", ông Tô Thái Ninh chia sẻ.

Tô Thái Ninh 3
Ông Tô Thái Ninh cho biết: Một bộ hồ sơ đề nghị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và điều tra chống bán phá giá nói riêng bao gồm 04 nội dung đặc biệt quan trọng mà doanh nghiệp, hiệp hội muốn sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích của mình cần lưu ý.

Trụ cột 3: Chứng minh thiệt hại của ngành sản xuất trong nước

Thiệt hại là những tác động tiêu cực về mặt kinh tế đối với hoạt động của ngành sản xuất trong nước. Chúng ta phải chứng minh hoạt động sản xuất kinh doanh đang gặp khó khăn như: sản lượng sụt giảm, doanh thu, lợi nhuận suy yếu, hàng hóa tồn kho gia tăng...

Đối với yêu cầu về dữ liệu thời gian: Dữ liệu chứng minh hành vi bán phá giá cần kéo dài ít nhất 1 năm trước thời điểm nộp hồ sơ. Dữ liệu chứng minh thiệt hại yêu cầu thời gian dài hơn, ít nhất là 4 năm để thấy rõ xu hướng đi xuống của ngành (trước đây hoạt động tốt, nhưng từ khi có hàng nhập khẩu phá giá thì các chỉ số bắt đầu xấu đi...).

Để đo lường vấn đề thiệt hại của ngành sản xuất trong nước, có 14 chỉ số đánh giá thiệt hại theo quy định bao gồm: hoạt động bán hàng, thị phần, sản lượng, công suất thiết kế, công suất sử dụng, tồn kho, doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền, khả năng huy động vốn, tỷ suất lợi nhuận, lao động, tiền lương, năng suất. Tất cả các chỉ số phải được chứng minh bằng số liệu thực tế từ báo cáo tài chính hay sổ sách kế toán của các doanh nghiệp nộp hồ sơ.

Tuy nhiên, Trưởng phòng Phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp (Cục Phòng vệ thương mại) cho rằng trong quá trình này các doanh nghiệp gặp thách thức về bảo mật thông tin. Vì hồ sơ yêu cầu tập hợp và gộp dữ liệu của nhiều doanh nghiệp độc lập trong ngành để đánh giá thiệt hại chung, câu hỏi đặt ra ai là người tổng hợp những dữ liệu này của các doanh nghiệp; làm thế nào để chia sẻ các thông tin bảo mật về chi phí, doanh thu, lợi nhuận, sản lượng mà không bị lộ bí mật kinh doanh của nhau?

Theo ông Tô Thái Ninh, có hai giải pháp thực tế:

Giải pháp 1: Thông qua Hiệp hội ngành hàng đứng ra làm đầu mối tập hợp, xử lý dữ liệu và bảo mật thông tin cho các thành viên để xây dựng hồ sơ đại diện.

Giải pháp 2: Thuê một đơn vị tư vấn độc lập chuyên nghiệp. Đơn vị này sẽ ký cam kết bảo mật, làm việc riêng với từng doanh nghiệp để thu thập dữ liệu hệ thống kế toán, báo cáo tài chính, sau đó tổng hợp phân tích chung cho cả ngành mà phải đảm bảo không chia sẻ số liệu chi tiết giữa các doanh nghiệp với nhau.

Trụ cột 4: Chứng minh được mối quan hệ nhân quả

Chúng ta phải chỉ ra thiệt hại, khó khăn đáng kể của ngành sản xuất trong nước đến trực tiếp từ hành vi bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu.

Cách chứng minh hiệu quả nhất thường là chứng minh gián tiếp bằng phương pháp loại trừ: Thay vì chỉ ra mối liên kết trực tiếp vốn rất phức tạp, doanh nghiệp chứng minh thiệt hại của mình không phải do các yếu tố khác gây ra, như: Sự sụt giảm tổng cầu của thị trường nội địa; sự tụt hậu về công nghệ của doanh nghiệp trong nước làm giảm sức cạnh tranh; hoạt động đầu tư dàn trải hoặc đầu tư không đúng thời điểm của doanh nghiệp...

Khi chứng minh và loại trừ được các nguyên nhân này, yếu tố cốt lõi còn lại duy nhất chính là hàng hóa nhập khẩu bán phá giá là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước. Bản thân Cơ quan điều tra khi phân tích và đánh giá hồ sơ cũng áp dụng phương pháp loại trừ này để xác định mối quan hệ nhân quả.

hội nghị phòng vệ thương mại
Hội nghị bàn tròn "Sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại trong phát triển ngành công nghiệp và công nghiệp hóa chất bền vững" thu hút sự quan tâm, tham dự của đại diện các Bộ, ban, ngành, địa phương, doanh nghiệp.

Khuyến nghị chiến lược cho doanh nghiệp

Cùng với việc chia sẻ về cách thức chuẩn bị hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, ông Tô Thái Ninh cũng đưa ra một số khuyến nghị chiến lược cho doanh nghiệp.

Theo đó, cần xây dựng bộ phận chuyên trách về phòng vệ thương mại trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp nên coi phòng vệ thương mại là một công cụ chiến lược dài hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành thép (như Tập đoàn Hòa Phát, Tập đoàn Hoa Sen...) đã thành lập hẳn một ban chuyên trách về phòng vệ thương mại. Bộ phận này không chỉ giúp sử dụng hiệu quả công cụ để bảo vệ thị trường nội địa mà còn chủ động ứng phó với các vụ kiện phòng vệ thương mại từ nước ngoài khi xuất khẩu hàng hóa, chuẩn bị dữ liệu và trả lời câu hỏi của cơ quan điều tra nước bạn một cách chặt chẽ nhất.

Để vận hành hiệu quả việc ứng phó hoặc đề xuất phòng vệ thương mại, doanh nghiệp cần sự phối hợp chặt chẽ của ba bộ phận chủ chốt:

Phòng Kế toán: Nắm giữ thông tin tài chính, thể hiện "sức khỏe" và dữ liệu thiệt hại của doanh nghiệp để đưa ra các bằng chứng số liệu chính xác;

Phòng Kinh doanh: Nắm bắt thông tin thị trường, giá cả và tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa;

Phòng Pháp chế: Đảm bảo toàn bộ quy trình, hồ sơ đáp ứng đúng và chặt chẽ các quy định pháp luật.

Doanh nghiệp nên xây dựng một đội ngũ chuyên trách riêng để luôn sẵn sàng chuẩn bị hồ sơ khi cần thiết. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nên chủ động tận dụng nguồn thông tin từ dữ liệu Hải quan, hệ thống cảnh báo sớm của Cục Phòng vệ thương mại, mạng lưới đối tác xuất nhập khẩu, văn phòng luật tại nước ngoài để thu thập thông tin, chuẩn bị hồ sơ kịp thời, kỹ lưỡng.

Theo ông Ninh, việc chuẩn bị hồ sơ phòng vệ thương mại có tính thời điểm cực kỳ cao. Nếu doanh nghiệp mất quá nhiều thời gian (từ 2 đến 3 năm) chỉ để hoàn thiện hồ sơ, khi nộp lên thì bối cảnh thị trường đã thay đổi hoàn toàn, hoặc doanh nghiệp đã không còn đủ nguồn lực để duy trì hoạt động trên thị trường.

Một vấn đề khác cũng cần lưu ý, quy trình điều tra thực tế của cơ quan điều tra thường kéo dài từ 12 đến 18 tháng kể từ khi có quyết định khởi xướng điều tra. Trên thực tế, có những ngành doanh nghiệp phải mất hơn 2 năm để hoàn thiện hồ sơ hợp lệ nộp lên Cục Phòng vệ thương mại, sau đó lại phải chờ tiếp 12 - 18 tháng điều tra mới có biện pháp bảo vệ chính thức. Vì vậy, sự chuẩn bị kỹ lưỡng, nhanh chóng và kịp thời là yếu tố quyết định.

Quy trình điều tra phòng vệ thương mại (4 bước chính):

1. Tiếp nhận và thẩm định hồ sơ: Cơ quan điều tra nhận hồ sơ từ doanh nghiệp và tiến hành thẩm định tính đầy đủ, hợp lệ.

2. Khởi xướng điều tra: Khi hồ sơ đạt yêu cầu, cơ quan điều tra ra quyết định khởi xướng điều tra chính thức.

3. Điều tra sơ bộ: Tiến hành đánh giá sơ bộ. Nếu nhận thấy hành vi bán phá giá rõ ràng và gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước, cơ quan điều tra có thể kiến nghị áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời để bảo vệ kịp thời doanh nghiệp trong nước.

4. Điều tra cuối cùng: Tiếp tục các bước điều tra chi tiết để đưa ra quyết định cuối cùng (áp dụng thuế chính thức), thời gian kéo dài khoảng 12 tháng (trường hợp đặc biệt có thể gia hạn lên tối đa 18 tháng).

Đại diện Cục Phòng vệ thương mại nhấn mạnh, phòng vệ thương mại cần được xem là một phần trong chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp. Dù việc sử dụng công cụ này đòi hỏi doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng về mặt chi phí và nguồn lực bỏ ra so với lợi ích thu về, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, việc sử dụng phòng vệ thương mại kịp thời và hiệu quả sẽ mang lại lợi ích to lớn, thể hiện ở các khía cạnh: Ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu; tạo khoảng thời gian cần thiết để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, cải tiến công nghệ và đủ sức cạnh tranh sòng phẳng với hàng hóa nhập khẩu; loại bỏ các hành vi trợ cấp, bán phá giá của các doanh nghiệp nước ngoài, thiết lập môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh tại thị trường nội địa; góp phần giúp doanh nghiệp giữ vững và mở rộng thị phần, thị trường, đảm bảo sự phát triển bền vững và lâu dài.

Theo Tạp chí Công Thương

Tin cùng chuyên mục

Nhận biết dấu hiệu và các bước chuẩn bị hồ sơ yêu cầu điều tra phòng vệ thương mại đối với lĩnh vực công nghiệp

Đại diện Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, một bộ hồ sơ đề nghị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại nói chung và điều tra chống bán phá giá nói riêng bao gồm 04 nội dung quan trọng mà doanh nghiệp, hiệp hội muốn sử dụng biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ lợi ích của mình cần lưu ý.

06/08/2026