Thứ hai, 25/05/2026 | 03:44

“Đòn bẩy” nâng năng suất, giảm rủi ro lao động
Trong xu thế phát triển công nghiệp theo hướng xanh, hiện đại và bền vững, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đang đẩy mạnh ứng dụng KHCN, tự động hóa và chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất. Điều này không chỉ góp phần nâng cao năng suất, tối ưu quy trình vận hành, mà còn từng bước cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn lao động và giảm thiểu tác động đến môi trường.
Tại Công ty Tuyển than Hòn Gai, ứng dụng KHCN được xác định là giải pháp trọng tâm, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh gắn với bảo đảm an toàn lao động và bảo vệ môi trường. Những năm gần đây, đơn vị đồng bộ triển khai nhiều giải pháp tự động hóa, chuyển đổi số trong quản lý điều hành và tổ chức sản xuất. Từ việc số hóa công tác giao ca, nhận lệnh sản xuất, đến đầu tư hệ thống hút bụi, phun sương cao áp tại Phân xưởng Sàng tuyển, Trung tâm Chế biến và Kho than tập trung vùng Hòn Gai đã góp phần kiểm soát bụi phát sinh trong quá trình sản xuất, cải thiện điều kiện lao động cho công nhân. Việc ứng dụng công nghệ cũng giúp giảm thao tác thủ công, nâng cao tính chính xác, kịp thời trong quản lý, điều hành sản xuất.

Chị Nguyễn Thị Hạnh, công nhân Phân xưởng Sàng tuyển, Trung tâm Chế biến và Kho than tập trung vùng Hòn Gai, chia sẻ: “Từ khi Công ty đầu tư hệ thống hút bụi, phun sương tự động và ứng dụng số hóa trong quản lý sản xuất, môi trường làm việc sạch hơn, bụi giảm đáng kể. Công nhân yên tâm làm việc, điều kiện lao động cũng được cải thiện rõ rệt”.
Cùng với đầu tư công nghệ, Công ty Tuyển than Hòn Gai tiếp tục triển khai nhiều hạng mục phục vụ công tác an toàn, bảo vệ môi trường, như lắp đặt lưới chắn bụi tại các bến cảng, tăng diện tích cây xanh trong khu vực nhà máy, bổ sung phương tiện PCCC, trang bị bảo hộ lao động phù hợp với từng vị trí việc làm. Đặc biệt, mô hình giám sát giao nhận than tập trung tại trạm cân ô tô điện tử trên nền tảng công nghệ thông tin và tự động hóa, tích hợp hệ thống camera độ phân giải cao, đã giúp rút ngắn thời gian xử lý, nâng năng lực vận chuyển than từ 12.000 tấn lên 18.000 tấn/ngày. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành, hạn chế rủi ro trong quá trình giao nhận, vận chuyển than.

Ông Lê Thanh Hoàn, Phó Giám đốc Công ty Tuyển than Hòn Gai, cho biết: “Ứng dụng KHCN, tự động hóa và chuyển đổi số là giải pháp quan trọng để doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, bảo đảm an toàn sản xuất, giảm tác động môi trường và hướng tới phát triển bền vững. Cùng với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, sản xuất kinh doanh của Công ty đạt được kết quả tích cực, hết quý I/2026, đơn vị đã tiêu thụ gần 2,7 triệu tấn than, doanh thu đạt trên 5.000 tỷ đồng. Hiện Công ty Tuyển than Hòn Gai tiếp tục hoàn thiện dự án băng tải than khép kín dài gần 9km từ mỏ Núi Béo, Hà Tu về Trung tâm Chế biến và Kho than tập trung vùng Hòn Gai, nhằm đồng bộ hóa quy trình khai thác - chế biến - tiêu thụ than theo hướng hiện đại, giảm phát thải ra môi trường.
Không riêng ngành Than, tại Công ty TNHH MTV Đóng tàu Hạ Long, đổi mới công nghệ cũng đang tạo chuyển biến rõ nét trong nâng cao năng lực sản xuất và cải thiện điều kiện lao động.


Đặc thù của ngành Công nghiệp đóng tàu là cường độ lao động lớn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn lao động. Vì vậy, doanh nghiệp chú trọng đầu tư dây chuyền thiết bị hiện đại, nhằm giảm lao động thủ công, nâng cao độ chính xác trong gia công, đồng thời bảo đảm an toàn trong quá trình sản xuất. Đây cũng là cơ sở để năm 2026 đơn vị triển khai đóng mới gần 20 tàu có trọng tải 3.200-45.000 DWT, dự kiến doanh thu năm 2026 đạt trên 1.000 tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với năm 2025.
Tại Phân xưởng Lắp ráp tổng đoạn, việc đưa máy cắt CNC laser vào thay thế công nghệ cắt plasma trước đây đã giúp tăng công suất cắt gấp 5 lần, đạt 1.600-2.000m chi tiết/ca sản xuất. Công nghệ laser cũng góp phần giảm đáng kể khói bụi, tiếng ồn và khối lượng gia công thủ công sau cắt, qua đó cải thiện môi trường làm việc cho người lao động.
Ông Bùi Đức Chiến, Tổ trưởng Tổ CNC 01, Công ty TNHH MTV Đóng tàu Hạ Long, cho biết: “Máy cắt laser giúp nâng cao độ chính xác, giảm nhiều công đoạn mài, vệ sinh sau cắt, gần như không còn khói bụi như trước. Người lao động cũng được đào tạo kỹ về quy trình vận hành, an toàn thiết bị, nên quá trình sản xuất hiệu quả hơn”.
Thực tế tại nhiều doanh nghiệp cho thấy, khi KHCN được đưa vào sâu hơn trong từng công đoạn sản xuất, không chỉ năng suất lao động được nâng lên, mà điều kiện làm việc, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng từng bước được cải thiện. Đây cũng là nền tảng quan trọng để các doanh nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số ngày càng sâu rộng hiện nay.
Tạo nền tảng cho mô hình tăng trưởng mới
Trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững ngày càng đặt ra rõ nét, cùng mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức cao và hiện thực hóa định hướng xây dựng Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong năm 2026, tỉnh cũng đang quyết liệt thúc đẩy KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Đây không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình phát triển, mà còn thể hiện rõ quyết tâm chính trị, tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược của tỉnh trong việc tạo dựng dư địa phát triển dài hạn dựa trên tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Đồng chí Quản Minh Cường, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, nhấn mạnh: "Trong bối cảnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và phát triển KHCN đang trở thành động lực then chốt của tăng trưởng, ngành KHCN phải thực sự tiên phong, đi đầu, tạo ra những thành tựu rõ ràng, cụ thể, có khả năng ứng dụng rộng khắp trong thực tiễn. Hoạt động KHCN phải đáp ứng yếu tố cơ bản, bảo đảm tính toàn diện, chi tiết, đầy đủ, đồng thời không ngừng đổi mới, thích nghi với yêu cầu phát triển mới; kết hợp hài hòa giữa kế thừa và hợp tác, giữa truyền thống và hiện đại, lấy công nghệ làm nền tảng, con người làm trung tâm và khoa học làm động lực chủ đạo. Ngành KHCN phải phát huy mạnh mẽ tinh thần sáng tạo, dũng cảm đổi mới, làm giàu tri thức, nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ; chú trọng vai trò dẫn dắt, lan tỏa trong toàn xã hội. Đặc biệt, phải khuyến khích khu vực tư nhân, đội ngũ trí thức, doanh nghiệp và đông đảo các lực lượng cùng tham gia phát triển KHCN. Cùng với đó, cần phấn đấu tạo ra các sản phẩm, mô hình khác biệt, mới mẻ, có giá trị thực tiễn cao, hướng tới mục tiêu đạt trình độ tiên tiến, dẫn đầu ở nhiều lĩnh vực.
Quan điểm này được tỉnh thể hiện rõ trong các chương trình nghiên cứu, ứng dụng KHCN và đổi mới sáng tạo tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030. Theo đó, tỉnh xác định KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “trụ cột, động lực chủ yếu” của mô hình tăng trưởng mới; góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đồng thời phát huy hiệu quả các tiềm năng, lợi thế riêng có của địa phương.

Trên cơ sở đó, Quảng Ninh đang xây dựng, triển khai đồng bộ nhiều chương trình KHCN quy mô lớn, bao trùm hầu hết các lĩnh vực trọng điểm của đời sống kinh tế - xã hội. Trọng tâm là các chương trình nghiên cứu, ứng dụng KHCN và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học xã hội và nhân văn; điều tra cơ bản tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và số hóa; phát triển kinh tế biển bền vững; phát triển năng lượng mới, vật liệu mới, địa chất và khoáng sản; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong y tế, dược phẩm và chăm sóc sức khỏe; thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo; bảo đảm quốc phòng - an ninh, an ninh mạng và trật tự an toàn xã hội.
Các chương trình được xây dựng theo hướng đồng bộ, lấy KHCN và đổi mới sáng tạo làm nền tảng thúc đẩy phát triển bền vững trên các lĩnh vực trọng yếu. Trong đó, tỉnh đặc biệt quan tâm hoàn thiện cơ chế, chính sách, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hình thành môi trường đổi mới sáng tạo có tính cạnh tranh.
Quảng Ninh đang nghiên cứu nhiều cơ chế đặc thù nhằm thu hút các tập đoàn công nghệ lớn, chuyên gia đầu ngành và nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời thúc đẩy hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ. Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quảng Ninh được định hướng trở thành đầu mối kết nối nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo theo hướng mở, hiện đại. Cùng với đó, tỉnh nghiên cứu áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với một số mô hình kinh doanh, công nghệ mới, nhằm tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo phát triển.

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, tỉnh định hướng đẩy mạnh giáo dục STEM, mô hình lớp học kết nối, ứng dụng công nghệ số trong quản trị và dạy học, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Đối với lĩnh vực kinh tế, Quảng Ninh tập trung hiện đại hóa kinh tế biển, nông nghiệp và công nghiệp theo hướng ứng dụng mạnh mẽ KHCN. Tỉnh đặt mục tiêu phát triển kinh tế biển trở thành động lực tăng trưởng quan trọng thông qua ứng dụng công nghệ GIS trong quản lý không gian biển đa mục tiêu, phát triển năng lượng tái tạo ngoài khơi và nghiên cứu thí điểm mô hình “kinh tế tầm thấp” sử dụng thiết bị bay không người lái (UAV) phục vụ du lịch, logistics và quản lý tài nguyên tại Vịnh Hạ Long.
Trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, tỉnh định hướng phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn và số hóa; ưu tiên xây dựng mô hình “cảng cá thông minh”, nuôi biển công nghiệp ứng dụng vật liệu mới có khả năng chống chịu thiên tai, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm OCOP phục vụ xuất khẩu.
Kinh tế di sản cũng được xác định là lĩnh vực có nhiều dư địa phát triển thông qua ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa. Các dự án phục dựng Thương cảng Vân Đồn, ứng dụng công nghệ thực tế ảo VR360 trong bảo tồn, quảng bá di tích, danh thắng đang từng bước được nghiên cứu triển khai, nhằm nâng cao trải nghiệm du lịch và phát huy giá trị di sản.
Trong lĩnh vực tài nguyên, môi trường, Quảng Ninh tập trung số hóa dữ liệu đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên biển, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và phục vụ phát triển kinh tế xanh. Ngành khai khoáng được định hướng chuyển đổi theo mô hình “mỏ thông minh”, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) trong quản trị, giám sát sản xuất và an toàn lao động; đồng thời thúc đẩy kinh tế tuần hoàn thông qua tái chế đất đá thải mỏ làm vật liệu xây dựng xanh.
Để chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, tỉnh cũng đẩy mạnh xây dựng hệ thống quan trắc tự động, cảnh báo sớm thiên tai trên nền tảng dữ liệu lớn, nhằm phục vụ công tác phòng chống thiên tai, bảo đảm an toàn cho người dân và hoạt động du lịch.
Cùng với phát triển kinh tế, Quảng Ninh ưu tiên nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm quốc phòng - an ninh. Trong lĩnh vực y tế, tỉnh tập trung ứng dụng các công nghệ tiên tiến như robot hỗ trợ phẫu thuật, in 3D trong y học, y học hạt nhân; đồng thời phát triển các mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi gắn với du lịch nghỉ dưỡng.
Ở lĩnh vực quốc phòng - an ninh, tỉnh định hướng xây dựng hệ thống giám sát, bảo đảm an toàn không gian mạng; ứng dụng AI trong quản lý đô thị thông minh, điều hành giao thông, nhận diện hình ảnh; tăng cường ứng dụng UAV, radar trong tuần tra biên giới, quản lý vùng biển và không gian bay tầm thấp.
Có thể thấy, KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang ngày càng hiện diện rõ nét trong nhiều lĩnh vực phát triển của Quảng Ninh. Từ định hướng chiến lược, đến xây dựng cơ chế, chính sách và triển khai các chương trình cụ thể, tỉnh đang từng bước tạo nền tảng cho mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây cũng là cơ sở quan trọng để Quảng Ninh nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng dư địa phát triển và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Lãnh đạo Amazon cho biết đang nghiên cứu triển khai dịch vụ internet vệ tinh quỹ đạo tầm thấp, mở rộng hoạt động và định hướng đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất một số thiết bị phục vụ xuất khẩu toàn cầu...
24/05/2026