Một nội dung đáng chú ý khác là hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Mức hỗ trợ tối đa bằng 50% dự toán chi phí được phê duyệt, nhưng không quá 480 triệu đồng/cơ sở. Trường hợp đầu tư dây chuyền công nghệ, mức hỗ trợ tối đa được tính bằng 1,5 lần mức hỗ trợ đối với máy móc, thiết bị và công nghệ nêu trên.

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 139/2026/TT-BTC về lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khuyến công, có hiệu lực từ ngày 15/11/2026. Chính sách này tạo thêm nguồn lực để các cơ sở công nghiệp nông thôn đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó có những ngành sản xuất gắn trực tiếp với khu vực nông nghiệp.
TIẾP SỨC ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở NÔNG THÔN
Thông tư 139 nêu rõ, kinh phí khuyến công có thể được sử dụng để xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ, áp dụng sản xuất sạch hơn và sản xuất, tiêu dùng bền vững trong công nghiệp.
Đối với mô hình trình diễn nhằm phổ biến công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới, mức hỗ trợ tối đa bằng 30% dự toán chi phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng không quá 1,6 tỷ đồng/mô hình. Kinh phí có thể được sử dụng cho xây dựng, mua máy móc, thiết bị và hoàn thiện tài liệu về quy trình công nghệ, quy trình sản xuất phục vụ trình diễn.
Đối với các cơ sở đang sản xuất hiệu quả và có khả năng nhân rộng, kinh phí khuyến công được sử dụng để hoàn thiện quy trình công nghệ, quy trình sản xuất phục vụ trình diễn kỹ thuật, với mức hỗ trợ tối đa 160 triệu đồng/mô hình.
Đối với các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, chi phí đầu tư ban đầu thường là một trong những rào cản lớn khi chuyển đổi công nghệ. Việc ngân sách hỗ trợ một phần kinh phí có thể giúp doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất giảm áp lực vốn, từng bước thay thế thiết bị cũ bằng máy móc, công nghệ có năng suất và hiệu quả cao hơn.
Chính sách khuyến công cũng dành nguồn lực cho đào tạo nghề, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và chuyển giao công nghệ. Các cơ sở còn có thể được hỗ trợ tư vấn về quản lý sản xuất, tài chính, nhân lực, thiết kế mẫu mã, ứng dụng công nghệ, thiết bị mới và tiếp cận các chính sách ưu đãi của Nhà nước.
GẮN ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Bên cạnh nâng cao năng lực sản xuất, Thông tư 139 dành nhóm chính sách riêng cho sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững và xử lý môi trường tại các cơ sở công nghiệp nông thôn, cụm công nghiệp.
Đối với mô hình áp dụng sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững trong công nghiệp, mức hỗ trợ tối đa bằng 30% dự toán chi phí được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng không quá 800 triệu đồng/mô hình.
Phạm vi hỗ trợ bao gồm thay thế nguyên, nhiên, vật liệu; đổi mới máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ; đào tạo nâng cao năng lực quản lý, tay nghề công nhân; hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm và hoàn thiện tài liệu về quy trình công nghệ, quy trình sản xuất.
Việc đưa các nội dung môi trường vào cùng chính sách hỗ trợ sản xuất, cho thấy yêu cầu giảm chất thải đang được đặt song song với mục tiêu nâng cao hiệu quả sản xuất. Thay vì chỉ xử lý chất thải ở cuối quy trình, cơ sở sản xuất có thể giảm lượng chất thải ngay từ đầu thông qua thay đổi nguyên liệu, thiết bị và công nghệ, qua đó giảm tiêu hao tài nguyên.
Đối với xử lý nước thải, khí thải, mức hỗ trợ tối đa là 50% dự toán chi phí, nhưng không quá 480 triệu đồng/cơ sở công nghiệp nông thôn. Ở quy mô cụm công nghiệp, mức hỗ trợ tối đa cũng bằng 50% dự toán được phê duyệt, với mức hỗ trợ không quá 2 tỷ đồng/cụm công nghiệp.
Nguồn lực này tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất nâng cấp hệ thống xử lý chất thải trong bối cảnh khả năng tự cân đối vốn của nhiều cơ sở còn hạn chế. Đối với cụm công nghiệp, đầu tư hệ thống xử lý tập trung còn góp phần kiểm soát môi trường trên phạm vi rộng, thay vì để từng cơ sở tự xử lý riêng lẻ.
Thông tư cũng cho phép hỗ trợ xúc tiến đầu tư phát triển cụm công nghiệp, trong đó có các hoạt động như hội nghị, hội thảo và diễn đàn xúc tiến đầu tư.
Việc kết hợp hỗ trợ đầu tư công nghệ, xử lý nước thải, khí thải với xúc tiến phát triển cụm công nghiệp hướng tới mô hình trong đó mở rộng năng lực sản xuất phải đi cùng kiểm soát tác động môi trường.
Đối với khu vực nông nghiệp, định hướng này có ý nghĩa khi hoạt động chế biến nông sản, thực phẩm ngày càng phát triển. Việc đầu tư công nghệ phù hợp không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn có thể giảm tiêu hao nguyên liệu, nước, năng lượng và hạn chế chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất.
Thông tư 139 nêu rõ, kinh phí khuyến công được bảo đảm từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ hoạt động khuyến công quốc gia; ngân sách địa phương hỗ trợ hoạt động khuyến công địa phương. Bên cạnh đó, các nguồn tài chính hợp pháp khác cũng có thể được huy động.
Với cơ chế hỗ trợ này, các cơ sở công nghiệp nông thôn, trong đó có những cơ sở chế biến nông sản, có thêm điều kiện đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị sản phẩm và cải thiện năng lực cạnh tranh. Đồng thời, việc gắn hỗ trợ sản xuất với sản xuất sạch hơn và xử lý môi trường cũng tạo nền tảng để khu vực sản xuất nông thôn phát triển theo hướng hiệu quả và bền vững hơn.