Ngày 4/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.25/2026/NQ-CP về xử lý khó khăn, vướng mắc liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về khu công nghiệp, địa chất, khoáng sản. Theo đó, Bộ Công Thương được giao thực hiện một loạt nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản trước đây thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng.
Ngày 11/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 351/2026/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương, quy định địa chất, khoáng sản là những lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cũng được chuyển từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Bộ Công Thương. Những thay đổi này đánh dấu việc lĩnh vực địa chất, khoáng sản trở lại hệ thống quản lý ngành Công Thương sau gần một phần tư thế kỷ, kể từ khi nhiệm vụ này được bàn giao từ Bộ Công nghiệp (Bộ Công Thương hiện nay) sang các cơ quan chức năng khác trong quá trình tổ chức lại bộ máy Chính phủ năm 2002.


Trước đây, các nhiệm vụ quản lý địa chất, khoáng sản và phát triển công nghiệp được phân công cho những đầu mối khác nhau, phù hợp với yêu cầu chuyên môn hóa quản lý nhà nước ở từng thời kỳ phát triển. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế đang bước sang giai đoạn công nghiệp hóa theo chiều sâu, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ cao, năng lượng mới và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, yêu cầu gắn kết giữa tài nguyên khoáng sản với phát triển công nghiệp ngày càng trở nên rõ nét.
Theo đó, quản lý khoáng sản không chỉ dừng ở việc xác định quy mô, chất lượng, phân bố và điều kiện khai thác của nguồn tài nguyên, mà còn phải đặt tài nguyên trong toàn bộ chuỗi giá trị: có thể khai thác, chế biến đến mức độ nào, tạo ra những loại nguyên liệu, vật liệu gì, kết nối ra sao với nhu cầu của các ngành công nghiệp trong nước.

Chi nhánh Luyện đồng Lào Cai - Vimico - Ảnh: Tổng Công ty Khoáng sản TKV - CTCP
Điều này càng có ý nghĩa trong bối cảnh những đứt gãy chuỗi cung ứng gần đây cho thấy rủi ro ngày càng lớn khi phụ thuộc vào nguồn cung khoáng sản và nguyên liệu từ bên ngoài. Chuyển dịch năng lượng và sự phát triển nhanh của các ngành công nghệ mới cũng đang làm gia tăng mạnh nhu cầu đối với nhiều loại khoáng sản thiết yếu, đặc biệt trong các lĩnh vực bán dẫn, pin, điện tử và năng lượng tái tạo. Khoáng sản vì thế ngày càng giữ vị trí quan trọng trong chiến lược cạnh tranh quốc gia, đồng thời trở thành một công cụ của chính sách công nghiệp và an ninh kinh tế.
Năm 2025, việc Trung Quốc kiểm soát xuất khẩu một số nguyên tố đất hiếm nặng đã làm gián đoạn nguồn cung nam châm vĩnh cửu, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất ô tô tại nhiều thị trường1.
Trong khi đó, Indonesia hạn chế xuất khẩu quặng nickel và thúc đẩy chế biến trong nước từ năm 2020, qua đó mở rộng năng lực luyện kim và đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm nickel đã qua chế biến tăng hơn 4 lần2. Những trường hợp này cho thấy các quốc gia không chỉ quan tâm đến khả năng tiếp cận tài nguyên, mà ngày càng chú trọng kiểm soát các khâu chế biến, bảo đảm nguồn cung và giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng trong nước, theo OECD.
Trong bối cảnh trên, năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền sản xuất ngày càng phụ thuộc vào khả năng chủ động nguồn nguyên liệu thiết yếu, cũng như mức độ liên kết giữa các khâu từ khai thác, chế biến đến sản xuất trong chuỗi giá trị.

Một góc công trường khai thác tại mỏ Núi Pháo (Thái Nguyên) - Ảnh: Masan High-Tech Materials
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng, nhưng lợi thế này không tự động chuyển thành năng lực về nguyên liệu và sản xuất. Mục tiêu vì vậy không phải là khai thác tối đa tài nguyên sẵn có, mà là nâng cao giá trị kinh tế và chiến lược được tạo ra trên toàn bộ chuỗi.
Từ yêu cầu đó, việc tập trung chức năng quản lý địa chất, khoáng sản và phát triển công nghiệp trong cùng một đầu mối tạo điều kiện hình thành cách tiếp cận xuyên suốt hơn, gắn khai thác với chế biến và nhu cầu của các ngành phía sau. Trên nền tảng các chuỗi cung ứng nguyên liệu, vật liệu trong nước đã và đang được hình thành cho một số ngành công nghiệp nền tảng, vấn đề đặt ra là tiếp tục nâng cấp chuỗi, mở rộng chế biến sâu và gia tăng giá trị tạo ra trong nước. Qua đó, lợi thế về tài nguyên có thể được chuyển hóa tốt hơn thành năng lực sản xuất, tăng mức độ chủ động về nguồn cung và góp phần củng cố an ninh tài nguyên, an ninh nguyên liệu.


Đây cũng không phải là lần đầu tiên lĩnh vực địa chất, khoáng sản được đặt trong hệ thống quản lý của ngành Công Thương. Trong nhiều giai đoạn lịch sử, công tác điều tra địa chất, khai khoáng từng trực tiếp thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương và các bộ tiền nhiệm3 .
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khôi phục công nghiệp khai khoáng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhằm chấn hưng nền kinh tế, bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Bộ Kinh tế được giao tổ chức thực hiện nhiệm vụ này, trong đó Nha Kỹ nghệ là đầu mối phụ trách, đốc thúc hoạt động khai khoáng.
Đến tháng 5/1946, Nha Kỹ nghệ được đổi tên thành Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ thuộc Bộ Quốc dân Kinh tế, đồng thời đảm nhiệm thêm các nhiệm vụ về địa chất, thăm dò và khai thác khoáng sản.
Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, công tác địa chất và khai khoáng tiếp tục được kiện toàn trong hệ thống quản lý ngành công nghiệp. Năm 1955, Sở Địa chất và Cục Khai khoáng là hai đầu mối chuyên môn thuộc Bộ Công Thương, lần lượt phụ trách công tác địa chất và khai khoáng. Đến năm 1957, Cục Địa chất được chuyển sang trực thuộc Bộ Công nghiệp.

Bước sang những năm 1960, khi miền Bắc đẩy mạnh công nghiệp hóa và ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, yêu cầu điều tra, đánh giá có hệ thống tiềm năng tài nguyên khoáng sản ngày càng trở nên cấp thiết. Năm 1960, Tổng cục Địa chất được thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ, trở thành đầu mối chuyên trách về điều tra, tìm kiếm, thăm dò và đánh giá tài nguyên khoáng sản; trong khi hoạt động khai thác và sản xuất công nghiệp mỏ thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công nghiệp nặng.
Đến năm 1969, Bộ Công nghiệp nặng được tổ chức lại thành Bộ Điện và Than, Bộ Cơ khí và Luyện kim và Tổng cục Hóa chất, qua đó hình thành cơ chế quản lý chuyên sâu hơn theo từng ngành công nghiệp. Bộ Điện và Than quản lý ngành than, còn một số hoạt động khai thác khoáng sản kim loại gắn với Bộ Cơ khí và Luyện kim. Trong khi đó, công tác điều tra, thăm dò và đánh giá tài nguyên tiếp tục do Tổng cục Địa chất đảm nhiệm.
Cách tổ chức này tiếp tục được điều chỉnh cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp. Năm 1981, Bộ Điện và Than được chia thành Bộ Điện lực và Bộ Mỏ và Than; đến năm 1987, hai bộ hợp nhất thành Bộ Năng lượng. Cùng năm, Tổng cục Địa chất được tổ chức lại thành Tổng cục Mỏ và Địa chất trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng. Theo đó, công tác điều tra, thăm dò và đánh giá tài nguyên tiếp tục được tổ chức theo đầu mối chuyên môn riêng, trong khi hoạt động khai thác, sản xuất khoáng sản gắn với các ngành công nghiệp tương ứng.

Khai thác dầu khí tại mỏ Bạch Hổ - Ảnh: Petrovietnam
Bước sang thời kỳ đổi mới, xu hướng thống nhất quản lý địa chất, khoáng sản với công nghiệp trở nên rõ nét hơn. Năm 1990, sau khi Tổng cục Mỏ và Địa chất giải thể, Cục Địa chất Việt Nam và Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước được đặt trực thuộc Bộ Công nghiệp nặng. Đến năm 1996, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam được thành lập, trực thuộc Bộ Công nghiệp, với phạm vi quản lý khá xuyên suốt từ điều tra địa chất, thăm dò đến khai thác, chế biến và bảo vệ tài nguyên khoáng sản.
Năm 2002, cùng với việc thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường, chức năng quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản và Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam được chuyển khỏi Bộ Công nghiệp. Bộ Công nghiệp, sau này là Bộ Công Thương, tiếp tục quản lý hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản theo phân công, cho đến khi chức năng quản lý địa chất, khoáng sản được đưa trở lại Bộ Công Thương.
Tài liệu tham khảo:
1 Reuters (2025). Auto companies face shortages due to China's rare earth restrictions. Ngày 5/6/2025.
2 Organisation for Economic Co-operation and Development. (2024). OECD economic surveys: Indonesia 2024. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/de87555a-en
3 Bộ Công Thương (2023). Lịch sử Công Thương Việt Nam (1945 - 2010). Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.