Sáng ngày 30/9/2026, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Phú Thọ, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Phú Thọ và Bộ Công Thương tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam”, với sự góp mặt của nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng gần 400 đại biểu là đại diện các ban, bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo một số tỉnh, thành phố; các sở, ban, ngành địa phương; viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo; chuyên gia, nhà khoa học; cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp; tổ chức quốc tế, đối tác phát triển và các cơ quan thông tấn, báo chí.
Hội thảo có sự tham gia của nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng gần 400 đại biểu
Tại Hội thảo, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Phạm Văn Quân trình bày tham luận về “Thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045”, tập trung làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế, điểm nghẽn và đề xuất những nhóm giải pháp lớn nhằm nâng cao năng lực của ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong giai đoạn mới.
Công nghiệp hỗ trợ từng bước hình thành năng lực sản xuất trong nước
Theo đại diện Cục Công nghiệp, trong gần ba thập kỷ qua, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có độ mở cao và là điểm đến của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, trong đó có các ngành công nghệ cao.
Tuy nhiên, cơ cấu sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam vẫn bộc lộ sự phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng nhập khẩu. Trong khi Việt Nam xuất khẩu nhiều sản phẩm cuối cùng có giá trị lớn như điện tử, hàng may mặc, giày dép, năng lực cung ứng các sản phẩm đầu vào của doanh nghiệp trong nước vẫn chưa tương xứng.
Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp Phạm Văn Quân trình bày tham luận tại Hội thảo
Thực tế này cho thấy phát triển công nghiệp hỗ trợ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình nâng cao giá trị gia tăng trong nước, củng cố năng lực tự chủ của nền công nghiệp, tăng tỷ trọng đóng góp của công nghiệp chế biến, chế tạo và giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thời gian qua, hệ thống chính sách về công nghiệp hỗ trợ từng bước được hoàn thiện. Năng lực sản xuất linh kiện, cụm linh kiện trong nước từng bước được hình thành, góp phần nâng tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng ở một số ngành như xe máy, điện tử gia dụng, dây cáp điện, khuôn mẫu, linh kiện nhựa - cao su.
Đáng chú ý, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 đã có sự chuyển đổi mạnh về cách tiếp cận. Thay vì hỗ trợ dàn trải, chương trình tập trung hỗ trợ theo chuỗi cung ứng, cụm sản phẩm và các bài toán công nghệ quy mô lớn; lấy yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và tỷ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp dẫn dắt làm định hướng.
Kết quả đầu ra như tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng tạo ra trong nước và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu được xác định là những thước đo quan trọng của hoạt động hỗ trợ. Đồng thời, phát triển công nghiệp hỗ trợ được gắn chặt hơn với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Theo khảo sát, điều tra cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ của Bộ Công Thương năm 2024, trong phạm vi khoảng 7.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, khoảng 30% doanh nghiệp đã tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.
Nâng cao năng lực doanh nghiệp, mở rộng dư địa nội địa hóa
Bên cạnh những kết quả đạt được, đại diện Cục Công nghiệp cho rằng công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Trước hết, quy mô và năng lực của phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ còn nhỏ. Số lượng doanh nghiệp có khả năng trở thành nhà cung cấp trực tiếp cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh và các tập đoàn đa quốc gia chưa nhiều.
Theo khảo sát của Bộ Công Thương, phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ chưa áp dụng rộng rãi các tiêu chuẩn quốc tế cũng như các công cụ quản trị sản xuất tiên tiến. Một điểm nghẽn khác là khả năng tự cung ứng nguyên liệu, linh kiện và phụ tùng trong nước còn hạn chế.
Tỷ lệ nội địa hóa của một số ngành công nghiệp trọng điểm hiện vẫn ở mức thấp, trong đó điện - điện tử khoảng 35%, dệt may - da giày khoảng 45 - 55%, cơ khí chế tạo khoảng 25 - 30% và ô tô con khoảng 15 - 20%.
Trong khi đó, nhiều nguyên vật liệu phục vụ sản xuất công nghiệp hỗ trợ như thép chế tạo, nhựa, chất dẻo, vải cho ngành dệt may và da giày vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nhập khẩu. Điều này ảnh hưởng đến khả năng chủ động sản xuất cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp trong nước.
Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực doanh nghiệp FDI cũng chưa tạo được mức độ lan tỏa tương xứng. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam gặp nhiều khó khăn về vốn, công nghệ, nhân lực, quản trị sản xuất và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn còn thiếu các đầu mối đủ năng lực hỗ trợ trực tiếp doanh nghiệp về nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận chất lượng và phát triển công nghệ. Trong khi phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có quy mô nhỏ và vừa, việc tự đầu tư các phòng thí nghiệm, thiết bị thử nghiệm hay hệ thống nghiên cứu và phát triển riêng là rất khó khăn.
Từ thực trạng trên, Cục Công nghiệp xác định một trong những yêu cầu trọng tâm trong giai đoạn tới là phải hình thành được năng lực công nghiệp nội sinh đủ mạnh, trong đó doanh nghiệp tư nhân trong nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Mục tiêu đặt ra đến năm 2035 là từng bước nâng tỷ lệ nội địa hóa của các ngành công nghiệp chủ lực, trong đó ngành điện tử đạt 35 - 40%; cơ khí chế tạo đạt 50%; ô tô đạt 32 - 40%; dệt may đạt 70%; da giày đạt 70 - 75% và công nghiệp công nghệ cao đạt 20%.
Để đạt được mục tiêu này, Bộ Công Thương đề xuất đồng thời triển khai nhiều nhóm giải pháp, trong đó trước hết cần tạo dựng thị trường đủ lớn cho doanh nghiệp công nghiệp trong nước. Việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, sử dụng phù hợp công cụ mua sắm công và các biện pháp phòng vệ thương mại... cũng được xác định là những công cụ quan trọng nhằm tạo thị trường và môi trường cạnh tranh lành mạnh cho sản phẩm công nghiệp trong nước.
Khảo sát của Bộ Công Thương cho thấy trong 7.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ đã có khoảng 30% doanh nghiệp đã tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.
Song song với phát triển thị trường, cần tập trung nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp. Các nhiệm vụ khoa học - công nghệ cần hướng tới phát triển và làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược của các ngành công nghiệp nền tảng; thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa các sản phẩm, quy trình và công nghệ mới; đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu và trường đại học.
Cục Công nghiệp cũng đề xuất phát triển năng lực thiết kế như một mắt xích quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tiến lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn; đổi mới cách tiếp cận đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiếp tục hoàn thiện các chính sách về vốn và tài chính để tạo điều kiện cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất. Cùng với đó, bộ máy quản lý nhà nước về công nghiệp cần tiếp tục được kiện toàn theo hướng rõ trách nhiệm, hạn chế chồng chéo và tăng cường năng lực quản lý công nghiệp tại địa phương, nhất là trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền.
Theo Phó Cục trưởng Phạm Văn Quân, để các giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ đạt được mục tiêu đề ra, bên cạnh sự chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp, các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và các tổ chức có liên quan.
Tham luận trình bày thực tại và định hướng thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam
Bộ Công Thương sẽ tiếp tục nỗ lực thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ phát triển, đồng thời tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức có liên quan, góp phần xây dựng nền công nghiệp Việt Nam tự chủ hơn, nâng cao giá trị gia tăng trong nước và từng bước nâng vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu.
Hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” tập trung thảo luận nhiều vấn đề lớn như phát triển thị trường cho công nghiệp hỗ trợ; mối quan hệ giữa khu vực FDI với năng lực công nghiệp nội sinh; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.
Các ý kiến, tham luận và kiến nghị tại Hội thảo sẽ được tổng hợp, chắt lọc để xây dựng báo cáo tham mưu Lãnh đạo Đảng, Nhà nước về chủ trương, định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ; đồng thời làm cơ sở rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách và chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trong thời gian tới.
Lý Quốc Thịnh