

Ông Đỗ Nam Bình: Về kết quả triển khai Nghị quyết số 57/NQ-TW, Cục Công nghiệp được giao chủ trì 8 nhiệm vụ. Đến nay, 5 nhiệm vụ đã hoàn thành đúng tiến độ; 3 nhiệm vụ còn lại đang tiếp tục triển khai, dự kiến hoàn thành trong quý III và quý IV năm 2026.
Điểm đáng chú ý, Cục Công nghiệp không chỉ hoàn thành các nhiệm vụ theo tiến độ, mà quan trọng hơn là đang từng bước kết nối các nhiệm vụ này thành một hệ thống giải pháp chung. Hệ thống đó bao gồm phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, xây dựng dữ liệu công nghiệp, chủ động về đất hiếm và vật liệu chiến lược, đồng thời lựa chọn một số sản phẩm công nghiệp ưu tiên để tập trung nguồn lực hỗ trợ.

Có thể nói, các hoạt động của Cục Công nghiệp hiện nay đều đang hướng tới mục tiêu chung là nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa cho các sản phẩm Việt Nam, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng là hướng đi để ngành công nghiệp tạo dựng năng lực nội sinh, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Ông Đỗ Nam Bình: Cục Công nghiệp đã tập trung triển khai nhiều nhóm nhiệm vụ. Cụ thể, về nâng cao năng lực nội địa hóa và phát triển công nghiệp hỗ trợ, Cục đã tham mưu xây dựng Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026. Chương trình tạo cơ sở để chuyển dần từ hỗ trợ rời rạc sang hỗ trợ doanh nghiệp theo chuỗi cung ứng, gắn với công nghệ, tiêu chuẩn, thị trường, khách hàng và kết quả nội địa hóa cụ thể.
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40 - 45%, chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN. Trong đó, phấn đấu đạt tỷ lệ nội địa hóa: Ngành điện tử đạt 25 - 30%; ngành cơ khí chế tạo đạt 40%; ngành ô tô 22 - 30%; ngành dệt may 60%; ngành da giày 60 - 65%; công nghiệp công nghệ cao đạt 15%.
Chương trình cũng đặt mục tiêu hỗ trợ 600 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ được hỗ trợ tư vấn, đào tạo hệ thống quản trị doanh nghiệp và quản trị sản xuất phù hợp với yêu cầu quốc tế, trong đó dự kiến khoảng 400 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ áp dụng thành công các hệ thống đã được tư vấn, đào tạo.
Bên cạnh đó, Cục đã tham mưu lãnh đạo Bộ ban hành Báo cáo số 507 ngày 30/6/2026 gửi Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về giải pháp nâng cao năng lực nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào khu vực FDI và hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Cách tiếp cận của báo cáo không chỉ nhìn vào một tỷ lệ nội địa hóa đơn thuần, mà gắn với giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng Việt Nam, hoạt động R&D, chuyển giao công nghệ và mức độ làm chủ các khâu thiết kế, chế tạo, tích hợp.
Sản xuất công nghiệp khởi sắc, tạo động lực cho mục tiêu tăng trưởng
Về phát triển dữ liệu công nghiệp, Cục Công nghiệp đã hoàn thành việc xây dựng, lấy ý kiến liên bộ, tiếp thu và hoàn thiện hồ sơ dự thảo Kế hoạch phát triển dữ liệu công nghiệp. Ngày 30/6/2026, Bộ Công Thương đã có Công văn số 4896 gửi Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương kèm hồ sơ dự thảo Kế hoạch. Điểm quan trọng là Kế hoạch đã xác lập cách tiếp cận dữ liệu theo nhu cầu sử dụng thực tế, phục vụ hoạch định chính sách, dự báo thị trường, cảnh báo rủi ro chuỗi cung ứng, kết nối cung - cầu, phát triển nhà cung ứng và đo lường kết quả nội địa hóa.
Về phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược, Cục Công nghiệp đã đề xuất 2 nhóm sản phẩm để tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa thành nhiệm vụ: Một là, các chi tiết cơ khí chính xác, khuôn mẫu, đồ gá và chi tiết xử lý bề mặt phục vụ điện tử, bán dẫn, ô tô, xe điện; hai là, nhôm kim loại và hợp kim nhôm. Đây là các nhóm sản phẩm có thị trường, có nền tảng doanh nghiệp trong nước và có khoảng trống công nghệ tương đối rõ.
Thêm vào đó, Cục Công nghiệp đang tích cực tham mưu xây dựng định hướng, chiến lược đối với đất hiếm và vật liệu chiến lược. Đây là nội dung rất quan trọng, vì đất hiếm, nhôm, vật liệu mới, vật liệu phục vụ bán dẫn, năng lượng tái tạo, xe điện, cơ khí chính xác và công nghiệp quốc phòng đều là đầu vào then chốt của các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ cao. Nếu làm chủ được một số khâu quan trọng trong chuỗi vật liệu, chúng ta sẽ có điều kiện nâng tỷ lệ nội địa hóa từ gốc, tức là từ nguyên liệu, vật liệu, linh kiện, cụm chi tiết đến sản phẩm hoàn chỉnh.

Ông Đỗ Nam Bình: Trong thời gian tới, Cục Công nghiệp tập trung vào 5 nhiệm vụ trọng tâm. Một là, tiếp tục hoàn thành các nhiệm vụ xây dựng chính sách, pháp luật như dự án Luật Công nghiệp trọng điểm, Chiến lược quốc gia về đất hiếm, chiến lược quốc gia về phát triển công nghiệp vật liệu… Trong đó, lồng ghép các công cụ thúc đẩy gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, tiêu thụ sản phẩm trong nước và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.
Hai là, triển khai đồng bộ các giải pháp theo Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 theo hướng hỗ trợ khép kín: Đánh giá hiện trạng doanh nghiệp, xây dựng lộ trình nâng cấp, hỗ trợ phát triển mẫu, thử nghiệm, chứng nhận, kết nối khách hàng và đánh giá kết quả sau hỗ trợ.
Ba là, gắn hoạt động của mạng lưới trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp với kết quả đầu ra cụ thể như doanh nghiệp được nâng cấp, sản phẩm được thử nghiệm, chứng nhận, nhà cung ứng mới và đơn hàng thực tế được hình thành.
Bốn là, chuyển Kế hoạch phát triển dữ liệu công nghiệp từ giai đoạn xây dựng hồ sơ sang chuẩn bị triển khai, với trọng tâm là xác định dữ liệu cốt lõi, chủ dữ liệu, từ điển dữ liệu, mã định danh, chuẩn kết nối, chu kỳ cập nhật và lựa chọn một số chuỗi giá trị để thí điểm.
Năm là, tiếp tục cụ thể hóa định hướng phát triển khoáng sản thiết yếu và chiến lược vật liệu theo hướng phục vụ trực tiếp cho công nghiệp chế biến sâu, công nghiệp hỗ trợ, sản phẩm công nghệ chiến lược và mục tiêu tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Mục tiêu đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40 - 45%
Tuy nhiên, đối với các nhiệm vụ có tính chất liên ngành, cần tăng cường cơ chế phối hợp, điều phối giữa các đơn vị thuộc Bộ, bảo đảm xác định rõ đầu mối, trách nhiệm phối hợp, chế độ theo dõi, báo cáo tiến độ và kịp thời cảnh báo đối với các nhiệm vụ có nguy cơ chậm tiến độ hoặc không đạt yêu cầu đầu ra.
Đồng thời, cần tăng cường gắn kết giữa các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với các nhiệm vụ phát triển công nghiệp, nhất là nội địa hóa, công nghiệp hỗ trợ, chiến lược đất hiếm, chiến lược vật liệu và phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược; qua đó bảo đảm tính đồng bộ, bổ trợ lẫn nhau, hạn chế trùng lặp, phân tán nguồn lực và nâng cao khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu, công nghệ thành năng lực sản xuất công nghiệp trong nước.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy phối hợp giữa đơn vị đầu mối về chuyển đổi số, các đơn vị quản lý dữ liệu trong Bộ và Cục Công nghiệp trong việc thống nhất kiến trúc dữ liệu, từ điển dữ liệu, mã định danh và các tiêu chuẩn kết nối, chia sẻ dữ liệu, từng bước hình thành hệ thống dữ liệu công nghiệp đồng bộ, phục vụ công tác quản lý nhà nước, hoạch định chính sách và theo dõi, đánh giá sự phát triển của các ngành công nghiệp.

Ông Đỗ Nam Bình: Từ thực tiễn triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, theo tôi, đối với lĩnh vực công nghiệp cần ưu tiên gắn nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược với khai thác, chế biến sâu và nâng cao giá trị gia tăng đối với các khoáng sản thiết yếu, khoáng sản chiến lược phục vụ các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ cao.
Trọng tâm là làm chủ công nghệ tuyển, luyện, tinh chế và chế biến sâu đối với đất hiếm, bô-xít - alumin - nhôm, titan, đồng, niken, vonfram, graphit và một số khoáng sản quan trọng khác; từng bước hình thành chuỗi sản xuất từ tài nguyên đến vật liệu, hợp kim, linh kiện và sản phẩm có giá trị gia tăng cao phục vụ công nghiệp điện tử, bán dẫn, pin và lưu trữ năng lượng, ô tô điện, năng lượng tái tạo, cơ khí chế tạo và quốc phòng - an ninh. Qua đó, giảm dần xuất khẩu nguyên liệu thô, nâng cao năng lực tự chủ về vật liệu đầu vào và tăng tỷ lệ giá trị gia tăng được tạo ra trong nước.

Ngành công nghiệp tăng năng lực tự chủ công nghệ
Cùng với đó, cần nhìn nhận dữ liệu công nghiệp không chỉ là cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý hành chính, mà phải là công cụ để đo lường năng lực sản xuất trong nước, tỷ lệ nội địa hóa, năng lực nhà cung ứng, nhu cầu đổi mới công nghệ, khả năng thay thế nhập khẩu và mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng. Việc phát triển dữ liệu công nghiệp cần gắn với Chương trình công nghiệp hỗ trợ, hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm công nghiệp và các sản phẩm công nghiệp ưu tiên.
Một điểm nữa là cần bổ sung nguyên tắc triển khai theo chuỗi giá trị và theo sản phẩm ưu tiên. Cụ thể, cần lựa chọn một số sản phẩm công nghiệp có thị trường rõ, có doanh nghiệp dẫn dắt, có yêu cầu kỹ thuật cụ thể, có khả năng tăng tỷ lệ nội địa hóa; từ đó, xác định khoảng trống công nghệ, hạ tầng thử nghiệm - chứng nhận, tiêu chuẩn, cơ chế hỗ trợ, nguồn lực và chỉ tiêu đánh giá. Kết quả không chỉ là hoàn thành nhiệm vụ theo tiến độ, mà phải đo bằng sản phẩm cụ thể, doanh nghiệp cụ thể, nhà cung ứng cụ thể, đơn hàng cụ thể và mức tăng tỷ lệ nội địa hóa có thể kiểm chứng.
Ngoài ra, tôi cho rằng, cần nghiên cứu cơ chế đặt hàng, mua sắm thử nghiệm, khách hàng đầu tiên và chấp nhận rủi ro có kiểm soát đối với sản phẩm công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghiệp ưu tiên do doanh nghiệp trong nước phát triển. Đồng thời, ưu tiên đầu tư hạ tầng thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận và phòng thí nghiệm dùng chung cho các nhóm sản phẩm công nghiệp trọng điểm, vật liệu chiến lược, đất hiếm, cơ khí chính xác, thiết bị điện, pin, năng lượng mới và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.

Nguồn: Báo Công Thương