[In trang]
Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026: Cỗ máy đã chạy nhanh
Chủ nhật, 30/08/2026 - 09:42
11,6% là mức tăng của chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 8 tháng năm 2026 so với cùng kỳ. Rất cao nhưng cũng chính trong bức tranh ấy, mục tiêu cả năm là 12 tới 14%, có nhiều địa phương 8 tháng tăng dưới 12%. Cần phải có một sức mạnh đồng bộ hơn nữa.
Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 1

Dây chuyền tự động hoá trong nhà máy. Nghị quyết 19-NQ/TW xếp công nghiệp chế biến chế tạo tiên tiến vào nhóm ngành mũi nhọn. Nguồn: Wikimedia Commons, giấy phép Public domain

Từ 9,0% quý I lên 11,6% sau 8 tháng: đường cong đi lên qua từng tháng

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 2

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng 2026

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2026 không tăng vọt một lần mà nhích lên theo từng quý. Quý I/2026, IIP tăng 9,0% so với cùng kỳ (quý I/2025 tăng 8,3%); 4 tháng tăng 9,2%; đến hết quý II, mức tăng của quý đạt 11,2% và luỹ kế 6 tháng đạt 10,8% (cùng kỳ 2025 tăng 8,7%).

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 3

Sang tháng 7, IIP ước tăng 1,2% so với tháng trước và 14,5% so với cùng kỳ, đưa mức tăng 7 tháng lên 11,4%, mà Cục Thống kê ghi là “mức tăng cao nhất của bảy tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua”. Sang tháng 8, IIP tăng tiếp 3,9% so với tháng trước và 12,6% so với cùng kỳ, đưa luỹ kế 8 tháng lên 11,6%. Riêng quý II, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,51% và đóng góp 50,07% vào mức tăng chung, tức quá nửa đà tăng của quý là do công nghiệp và xây dựng, theo báo cáo tháng 6/2026 của Viện Chiến lược Chính sách Công Thương.

Đặt cạnh nền hai năm trước, độ dốc rõ hơn: IIP năm 2024 tăng 8,2%, năm 2025 tăng 9,2%. Nói cách khác, mức 11,6% của 8 tháng 2026 cao hơn cả năm 2025 tới 2,4 điểm phần trăm.

Điểm ít được nhắc: mức tăng lan đều về địa lý. Từ báo cáo tháng 1 tới báo cáo 7 tháng, Cục Thống kê đều ghi cùng một câu “tăng ở cả 34 địa phương”. Số lao động đang làm việc trong doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/7/2026 tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước, cho thấy đà tăng đi kèm mở rộng việc làm chứ không chỉ do tăng năng suất trên nền lao động cũ.

2. Chế biến chế tạo tăng 11,7%: động lực nằm ở đâu và ai đang giữ nó

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 4

IIP tăng so với cùng kỳ qua các mốc

Số 6 tháng của Cục Thống kê bóc rõ cấu trúc: trong mức tăng 10,8% của toàn ngành, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,4% và đóng góp 8,9 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 9,6%, đóng góp 0,9 điểm; khai khoáng tăng 5,8% (cùng kỳ 2025 giảm 3,5%), đóng góp 0,9 điểm, với riêng Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam tiêu thụ khoảng 27,38 triệu tấn than trong 6 tháng, trong đó 22,77 triệu tấn giao cho sản xuất điện; cung cấp nước và xử lý rác thải tăng 8,9%, đóng góp 0,1 điểm. Tính theo giá trị tăng thêm, toàn ngành công nghiệp 6 tháng tăng 9,86%, riêng chế biến, chế tạo tăng 10,23% và đóng góp 33,07% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Như vậy hơn 80% mức tăng IIP là do chế biến, chế tạo.

Tới mốc 8 tháng, cấu trúc ấy giữ nguyên hướng nhưng đổi độ lớn: chế biến chế tạo tăng 11,7%, riêng tháng 8 tăng 12,5%, đúng bằng mức kế hoạch 12,5%; khai khoáng tăng 4,9%, cao hơn kế hoạch 1,0 điểm; sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, thấp hơn kế hoạch 2,6 điểm, theo báo cáo giao ban Bộ ngày 25/8/2026. Ba dòng ấy cho thấy chỗ hụt của công nghiệp 8 tháng không nằm ở chế tạo mà nằm ở điện, tức ở đầu vào chứ không ở đầu ra.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 5

Sức khoẻ của khu vực này còn đo được bằng ba chỉ số phụ. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành chế biến, chế tạo 6 tháng tăng 10,8% (cùng kỳ 2025 tăng 9,8%); tỷ lệ tồn kho bình quân 6 tháng là 82,2%, thấp hơn mức 85,7% của cùng kỳ 2025. Một thước đo độc lập ngoài hệ thống thống kê nhà nước cũng cho tín hiệu cùng chiều: chỉ số nhà quản trị mua hàng PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 6/2026 đạt 51,8 điểm, tức vẫn trên ngưỡng mở rộng 50 điểm, số của S&P Global dẫn qua báo cáo tháng 6/2026 của Viện Chiến lược Chính sách Công Thương. Hàng làm ra bán được, tồn kho hạ xuống, đó là nền cho mức 14,5% của tháng 7 và 12,6% của tháng 8.

Câu hỏi thứ hai là ai đang giữ động lực ấy. Số 8 tháng cho thấy khu vực FDI xuất khẩu 300,1 tỷ USD, tăng 26,7% và chiếm 80,2% tổng kim ngạch, trong khi doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 73,9 tỷ USD. Số 7 tháng của Cục Thống kê (theo Cục Hải quan cung cấp ngày 2/8/2026) cho thấy nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 90,1% kim ngạch xuất khẩu, đạt 287,91 tỷ USD; nhưng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 80,1% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ở chiều nhập khẩu, tư liệu sản xuất chiếm 94,1%, đạt 319,95 tỷ USD. Ba con số này nói một điều: công nghiệp Việt Nam tăng nhanh, xuất khẩu chủ yếu là hàng chế biến, nhưng đầu vào phần lớn nhập và đầu ra phần lớn do khối FDI nắm.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 6
Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 7

Cấu trúc bốn khu vực vừa bóc ở trên cho phép một phép đối chiếu hiếm khi làm được, vì thống kê công nghiệp mỗi nước thường phân loại một kiểu.

Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc chia chỉ số công nghiệp theo đúng ba nhóm tương đương: khai khoáng, chế biến chế tạo và sản xuất cung cấp điện, nhiệt, khí đốt cùng nước. Theo thông cáo tháng 6/2026 của cơ quan này, giá trị gia tăng công nghiệp của các doanh nghiệp quy mô trên ngưỡng thống kê tăng 5,4% trong sáu tháng đầu năm 2026, trong đó khai khoáng tăng 3,6%, chế biến chế tạo tăng 5,6%, còn nhóm điện, nhiệt, khí, nước tăng 5,5%.

Điều đáng chú ý không nằm ở con số tổng. Nó nằm ở một dòng riêng mà bảng thống kê Trung Quốc tách hẳn ra: chế biến chế tạo công nghệ cao tăng 13,3% trong sáu tháng, tức gấp gần 2,4 lần mức tăng 5,6% của chế biến chế tạo nói chung. Cùng thông cáo còn cho biết sản lượng xe năng lượng mới tháng 6 tăng 29,4% trong khi tổng sản lượng ô tô giảm 0,2%; nhóm máy tính, thiết bị truyền thông và điện tử tăng 15,7%.

Hai nền công nghiệp khác nhau về quy mô. Cái đáng tham khảo là cách đo: khi một nền công nghiệp muốn biết mình đang đi lên bằng lượng hay bằng chất, họ tách riêng cột công nghệ cao và công bố đều đặn hằng tháng, để chênh lệch giữa hai dòng số tự nói lên câu trả lời. Hệ thống chỉ tiêu công nghiệp của Việt Nam hiện chưa có một dòng tương đương công bố định kỳ. Đó là một khoảng trống đo lường, cũng là một đề xuất cụ thể cho việc xây dựng bộ chỉ số ngành mà Bộ Công Thương đang triển khai.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 8
Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 9

Khoảng cách với mục tiêu 12 tới 14%

Mức 11,6% chưa phải là đích. Cái đích ấy lại có địa chỉ văn bản rõ ràng. Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 giao ngành Công Thương chỉ tiêu chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2026 tăng khoảng 12 tới 14%. Trước đó, Kết luận 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV đặt yêu cầu hiện đại hoá công nghiệp quốc gia và nâng sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp nền tảng, còn Nghị quyết Đại hội XIV xác định tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo đạt khoảng 28% tổng sản phẩm trong nước vào năm 2030. Muốn chạm cận dưới 12%, bốn tháng còn lại phải giữ nhịp cao hơn 12%

Phép tính đơn giản: mục tiêu là cả năm tăng 12 tới 14%, luỹ kế 8 tháng mới 11,6%. Muốn chạm cận dưới 12%, bốn tháng còn lại phải giữ nhịp cao hơn 12% một cách bền, tức là lặp lại được mức 14,5% của tháng 7, 14,3% của tháng 5 và ít nhất giữ được mức 12,6% của tháng 8, chứ không phải quay về mức 9 tới 10% của quý I. Đáng chú ý, so với chính kế hoạch điều hành của Bộ, luỹ kế 8 tháng đạt 11,6% trong khi kế hoạch cùng mốc là 11,8%, tức còn hụt 0,2 điểm. Đây là ước lượng định tính từ số Cục Thống kê, không phải kịch bản chính thức của Bộ.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 10
Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 11

Mục tiêu nội địa hoá bình quân đến năm 2030

Nếu tăng trưởng là con số bề mặt thì nội địa hoá là con số bề sâu. Ở đây bức tranh chênh nhau rất mạnh giữa các ngành. Bảng 20 trong Dự thảo Chiến lược phát triển ngành Công Thương đến 2030, tầm nhìn 2045 (Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách Công Thương) liệt kê tỷ lệ nội địa hoá 18 ngành giai đoạn 2021 tới 2025: xe máy 85%; chế biến nông, lâm, thuỷ sản và thực phẩm 70%; khai khoáng và thép cùng 60%; da giày 55%; dệt may 50%; cơ khí 40%; công nghiệp hỗ trợ 35%; ô tô 20%; điện gió 15%; điện tử, máy tính, bán dẫn 15%.

Kho tổng hợp về công nghiệp hỗ trợ của Báo Công Thương cập nhật 22/6/2026, dẫn số Cục Công nghiệp, VAMA, VCCI 2024 tới 2025 cho các khoảng hẹp hơn ở phần đáy: Công nghiệp hỗ trợ trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu linh kiện cho thị trường nội địa; đến năm 2024 chỉ khoảng gần 300 doanh nghiệp Việt Nam vào được mạng lưới cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia trên mẫu số hơn 6.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.

Ở tầm vĩ mô, tại buổi làm việc ngày 11/3/2026 về chiến lược phát triển công nghiệp, Cục Công nghiệp báo cáo tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2025 chiếm khoảng 24,5% GDP; để đạt khoảng 28% vào năm 2030 là “một thách thức rất lớn”. Bảng chỉ tiêu Dự thảo Chiến lược ghi con số nền 2025 là 24,78% và mục tiêu 2030 là 28%.

Tỷ lệ nội địa hoá: hiện trạng và mục tiêu 2030

Khung mục tiêu chính thức hiện hành là Quyết định 929/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 tới 2035. Mục tiêu chung: đến năm 2030 một số ngành công nghiệp chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hoá bình quân 40 tới 45%, chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN. Mục tiêu cụ thể đến 2030: điện tử 25 tới 30%, cơ khí chế tạo 40%, ô tô 22 tới 30%, dệt may 60%, da giày 60 tới 65%, công nghiệp công nghệ cao 15%. Đến 2035 các mức này đều nâng thêm khoảng 10 điểm phần trăm. Quyết định dẫn căn cứ Kết luận 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV gắn với mục tiêu tăng trưởng “02 con số”.

Cùng thông điệp, tài liệu họp báo quý I/2026 của Bộ Công Thương nêu giải pháp “từng bước phấn đấu nâng tỷ lệ nội địa hoá lên 40%-45% ở các ngành trọng điểm, đặc biệt là các ngành chế biến chế tạo như dệt may, da giày, hoá chất, giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài”.

Làm việc với Bộ Công Thương ngày 22/4/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 82/NQ-CP thông qua chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm, đề nghị Bộ hoàn thành dự thảo Luật để trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 khoá XVI.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 12

Ngày 11/3/2026, khi còn là Quyền Bộ trưởng, đồng chí Lê Mạnh Hùng chủ trì buổi làm việc về hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp hướng tới tăng trưởng hai con số. Ông yêu cầu Cục Công nghiệp đánh giá thực trạng trên tổng thể toàn ngành chứ không chỉ trong phạm vi Bộ quản lý; xây dựng kịch bản và mô hình tính toán, xác định rõ tham số để phân bổ mục tiêu tăng trưởng cho từng lĩnh vực; lập danh mục nhiệm vụ, dự án cho năm 2026 và giai đoạn 2026 tới 2030, hướng tới hoàn thiện chuỗi giá trị và các ngành nền tảng như luyện kim; đồng thời nhấn mạnh thành tựu khoa học công nghệ phải chuyển hoá trực tiếp vào các ngành kinh tế.

Ngày 10/7/2026, tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chỉ đạo của Bộ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, xác định ba bài toán lớn của ngành, trong đó có “tự chủ công nghiệp và nâng cao nội địa hoá”, cùng danh mục 6 công nghệ và 16 sản phẩm công nghệ chiến lược.

Nối hai mốc lại, tinh thần chỉ đạo khá nhất quán: đo đúng trước, đặt chỉ tiêu theo năng lực từng ngành, rồi mới phân bổ nguồn lực. Con số 11,6% là kết quả của cách làm ấy trong 8 tháng; bài toán nội địa hoá là phần việc còn dài hơn. 

Yêu cầu tự chủ ấy không mới trong lịch sử ngành. Những năm kháng chiến, khi cả nền kinh tế phải dựa vào sức mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh gói tinh thần ấy vào bốn chữ mà Người nhắc lại nhiều lần trong các bài nói và bài viết: "Kháng chiến của ta nhất định thắng lợi, nhưng phải trường kỳ, gian khổ, tự lực cánh sinh". Bối cảnh khi đó khác hẳn hôm nay, nhưng chỗ giống nhau nằm ở chỗ tự lực chưa bao giờ là khẩu hiệu suông mà luôn là một tỷ lệ đo được.

Với ngành Công Thương năm 2026, tỷ lệ đo được ấy chính là bốn mốc nội địa hoá trong Quyết định 929: điện tử 25 tới 30%, cơ khí 40%, ô tô 22 tới 30%, dệt may 60% vào năm 2030. Con số 11,6% cho biết ngành đang chạy nhanh tới đâu. Bốn mốc nội địa hoá kia mới cho biết ngành đang chạy bằng chân của ai.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 13

Tỷ trọng giá trị gia tăng công nghiệp chế biến chế tạo trong GDP các nền kinh tế châu Á năm 2022. Nguồn: Wikimedia Commons, giấy phép CC BY 4.0

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 14

Chỉ số sản xuất công nghiệp đo tốc độ. Muốn biết công nghiệp chiếm chỗ nào trong nền kinh tế thì phải nhìn một thước khác, là tỷ trọng giá trị gia tăng của công nghiệp chế biến chế tạo trong GDP. Cơ sở dữ liệu Chỉ số Phát triển Thế giới của Ngân hàng Thế giới cho phép so trực tiếp với các nền kinh tế cùng khu vực.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 15

Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Chỉ số Phát triển Thế giới, mã chỉ tiêu NV.IND.MANF.ZS và NV.IND.MANF.KD.ZG, truy xuất ngày 27/8/2026.

Hai điều rút ra từ bảng trên cho thấy sức vươn lên rất rõ của Việt Nam:

Thứ nhất về độ nặng: công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam chiếm 24,53% GDP, gấp khoảng 1,65 lần mức trung bình thế giới 14,87% và chỉ kém Trung Quốc 0,2 điểm. Nói cách khác, Việt Nam đã là một nền kinh tế công nghiệp theo đúng nghĩa cơ cấu, chứ không còn là nước đang tìm đường vào công nghiệp.

Thứ hai về tốc độ: mức tăng 9,97% của năm 2025 là cao nhất trong nhóm, gấp hơn bốn lần Hàn Quốc, gấp hơn hai mươi lần Thái Lan. Đặt cạnh con số 11,6% của 8 tháng đầu năm 2026 thì thấy đà tăng không những giữ được mà còn nhanh hơn.

Nhưng chính hai con số ấy làm nổi bật câu hỏi của mục tiếp theo. Một nền công nghiệp đã nặng ký về tỷ trọng và nhanh về tốc độ, mà tỷ lệ nội địa hoá điện tử vẫn ở mức 5 tới 10% thì còn nhiều việc phải làm.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 16

Danh mục 6 công nghệ cùng 16 sản phẩm công nghệ chiến lược, các mốc nội địa hoá của Quyết định 929 và mục tiêu chỉ số sản xuất công nghiệp 12 tới 14% đều thuộc về một loại chính sách mà giới nghiên cứu thế giới đang bàn lại rất sôi nổi: chính sách công nghiệp.

Tại toạ đàm ngày 13/5/2025 do Quỹ Hans Böckler tổ chức, Giáo sư Dani Rodrik của Đại học Harvard mô tả bước chuyển của cuộc tranh luận này: “Tôi nghĩ nay chúng ta đã may mắn thoát khỏi cuộc tranh luận rất kém hiệu quả về chuyện chính phủ có nên làm chính sách công nghiệp hay không, để bước sang một cuộc tranh luận thú vị hơn, hiệu quả hơn và hữu ích hơn nhiều về chuyện chính sách công nghiệp nên được tiến hành như thế nào.” Ông đưa ra một tiêu chuẩn đánh giá đáng chú ý: “Thước đo thật sự của chính sách công nghiệp không phải là liệu chính phủ có chọn trúng người thắng một cách nhất quán hay không, mà là liệu họ có buông được những người thua hay không.”

Đặt thước đo ấy cạnh số liệu 8 tháng thì thấy ngay chỗ phải theo dõi. Còn nhiều địa phương tăng dưới 12%, tỷ lệ nội địa hoá thấp: đó là những chỗ mà việc rót thêm nguồn lực hay dừng lại đều cần căn cứ đo được, chứ không thể chỉ dựa vào kỳ vọng.

Cùng hướng đó, trong tài liệu Mission-oriented Industrial Strategy do Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc xuất bản năm 2023, Mariana Mazzucato và Rainer Kattel của Đại học College London viết: “Cách tiếp cận theo sứ mệnh này không phải là việc lập kế hoạch từ trên xuống bởi một nhà nước; nó là việc đưa ra định hướng cho tăng trưởng, dẫn dắt kỳ vọng của doanh nghiệp về những lĩnh vực tăng trưởng tương lai, xúc tác cho hoạt động.” 

Đó cũng là chỗ mà bài toán tự chủ công nghiệp của ngành sẽ được kiểm chứng, bằng chính các mốc nội địa hoá năm 2030 chứ không phải bằng tốc độ tăng của một năm và sẽ là gợi ý cho cách tiếp cận mới của Việt Nam hôm nay.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 17

Câu chuyện tỷ lệ nội địa hoá không mới trong lịch sử công nghiệp thế giới. Năm 1922, trong cuốn My Life and Work, Henry Ford viết về cách định giá của nhà sản xuất: phải bỏ lối định giá theo mức mà thị trường chịu đựng được, chuyển sang định giá dựa trên chi phí chế tạo rồi liên tục hạ chính chi phí ấy xuống.

Ford viết câu đó cho bối cảnh sản xuất hàng loạt ô tô ở Hoa Kỳ những năm 1920, khác hẳn hoàn cảnh Việt Nam năm 2026. Nhưng cái lõi thì trùng với bài toán đang đặt ra: muốn hạ được chi phí chế tạo thì phải nắm được chuỗi cung ứng ở phía đầu vào, tức là phải nội địa hoá. Một ngành lắp ráp với tỷ lệ nội địa hoá 5 tới 10% như điện tử thì phần chi phí có thể tác động được rất mỏng, vì hầu hết cấu thành giá nằm ở linh kiện nhập khẩu và biến động theo tỷ giá cùng giá thế giới.

Đối chiếu vào số liệu 8 tháng: chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,6% trong khi lao động chỉ tăng 1,0%. Sản lượng tăng nhanh hơn lao động là dấu hiệu năng suất đi lên, đúng hướng Ford mô tả. Nhưng năng suất ấy đến từ đâu, từ máy móc mới, từ tổ chức sản xuất tốt hơn hay chỉ từ việc chạy hết công suất thiết bị sẵn có, thì số liệu hiện có chưa tách bạch được. Đây là chỗ cần thêm dữ liệu trước khi kết luận.

Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026. Bài 2: Cỗ máy đã chạy nhanh - 18

Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV giao một việc chưa từng có tên trong các văn bản trước: “xây dựng và triển khai chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá thế hệ mới”. Nghị quyết nêu danh mục ưu tiên gồm bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, lượng tử, công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến chế tạo tiên tiến, công nghiệp xanh và công nghiệp năng lượng, đồng thời yêu cầu “chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ gắn với tăng tỉ lệ nội địa hoá”.

Câu cuối cùng ấy chạm đúng chỗ mà các con số hiện tại chưa nói được. Chỉ số sản xuất công nghiệp đo sản lượng vật chất làm ra trên lãnh thổ Việt Nam, không đo phần giá trị ở lại. Một dây chuyền lắp ráp chạy hết công suất và một nhà máy tự làm được vật liệu đầu vào có thể cùng cho ra một mức tăng chỉ số, nhưng hai thứ ấy khác nhau về bản chất công nghiệp hoá.

Nghị quyết còn đặt “công nghiệp vật liệu trở thành ngành công nghiệp cốt lõi, nền tảng”. Đó là lời giải cho bài toán tự chủ mà bài này nêu ở mục trên. Đó cũng là lý do bộ chỉ tiêu ngành cần thêm một dòng đo tỉ lệ nội địa hoá theo nhóm hàng, công bố cùng nhịp với chỉ số sản xuất công nghiệp.

Theo Báo Công Thương