- Thưa Thứ trưởng, để đạt mục tiêu đạt tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2026, Bộ Công Thương đã ban hành kế hoạch 1081/BCT-KHTC về việc triển khai các Nghị quyết của Chính phủ (Nghị quyết 01-NQ/CP và Nghị quyết 23-NQ/CP). Trong bối cảnh thế giới có những tình tiết mới bước - như sự việc Mỹ và Israel tiến hành cuộc không kích quân sự quy mô lớn tấn công nhằm vào Iran được dự báp tạo ra môi trường rủi ro cao đối với hoạt động vận tải, giao thương quốc tế và chuỗi cung ứng toàn cầu. Xin Thứ trưởng cho biết kế hoạch hành động của ngành Công Thương trong việc đảm bảo cung cầu hàng hoá thiết yếu, đặc biệt đối với mặt hàng năng lượng như xăng dầu, khí đốt…?
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân: Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP và Nghị quyết 23/NQ-CP, Bộ Công Thương đã xây dựng Kế hoạch 1081/BCT-KHTC để triển khai đồng bộ các nhiệm vụ được giao với mục tiêu vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa bảo đảm ổn định thị trường trong bối cảnh kinh tế thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro mới.
Khi xây dựng Kế hoạch hành động và các mục tiêu tăng trưởng, để hoàn thành những mục tiêu đầy thách thức năm 2026, Bộ Công Thương cũng có những đánh giá tác động đến ngành, trong đó đã tính đến các tác biến số địa chính trị.
Trước diễn biến phức tạp tại khu vực Trung Đông, Bộ Công Thương đã nhanh chóng “kích hoạt” các kịch bản ứng phó nằm trong khuôn khổ Kế hoạch 1081/BCT-KHTC. Cụ thể, hành động của Bộ tập trung vào 3 trụ cột chính:
1. Đảm bảo an ninh năng lượng và nguồn cung xăng dầu vì đây là “mạch máu” của nền kinh tế. Theo đó, để tránh đứt gãy nguồn cung do rủi ro vận tải quốc tế, cần phải đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, không phụ thuộc quá lớn vào một khu vực địa lý. Chúng tôi đang thúc đẩy các doanh nghiệp đầu mối tăng cường ký kết hợp đồng dài hạn với các đối tác tại Đông Nam Á, Australia và Mỹ để bù đắp nếu tuyến đường qua Trung Đông bị gián đoạn, đồng thời các doanh nghiệp đầu mối phải duy trì nghiêm túc mức dự trữ lưu thông theo quy định, sẵn sàng ứng phó trong tình huống nguồn cung thế giới bị thắt chặt. Bên cạnh đó, giữ ổn định sản xuất trong nước, các nhà máy ưu tiên điều tiết nguồn hàng cho thị trường nội địa.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân.
2. Giám sát thị trường và điều tiết cung cầu hàng hóa thiết yếu: Trong bối cảnh chi phí logistics tăng cao do rủi ro vận tải, có thể có hiện tượng găm hàng, đầu cơ. Vì vậy, lực lượng Quản lý thị trường trên cả nước sẽ tăng cường kiểm tra, ngăn chặn tình trạng găm hàng, tăng giá bất hợp lý đối với các mặt hàng thiết yếu. Đẩy mạnh chương trình "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" để giảm áp lực lên hàng nhập khẩu, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước lưu thông hàng hóa thông suốt giữa các vùng miền.
3. Chú trọng cảnh báo sớm và phản ứng linh hoạt trong chuỗi cung ứng: Bộ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan đại diện thương mại Việt Nam tại nước ngoài để cập nhật liên tục biến động thị trường, giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu chủ động thay đổi lộ trình vận chuyển hoặc phương thức thanh toán. Đồng thời có cơ chế phối hợp liên ngành linh hoạt, chật chẽ, như phối hợp với Bộ Tài chính để điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường nhưng có sự quản lý của Nhà nước.
Cùng với bảo đảm nguồn cung hàng hoá, Chính phủ yêu cầu bình ổn thị trường, kiểm soát giá cả hàng hóa thiết yếu… Các nhiệm vụ này được Bộ Công Thương triển khai ra sao để góp phần đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, kiểm soát lạm phát?
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân: Bảo đảm nguồn cung đi đôi với bình ổn thị trường và kiểm soát giá cả hàng hóa thiết yếu là nhiệm vụ xuyên suốt của Bộ Công Thương nhằm góp phần giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế và kiểm soát lạm phát.
Theo chức năng được giao, Bộ Công Thương luôn phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội ngành hàng, địa phương và doanh nghiệp là các thành viên của Tổ Điều hành thị trường trong nước để theo dõi sát diễn biến cung - cầu, đặc biệt đối với các mặt hàng thiết yếu, nhạy cảm như xăng dầu, điện, khí đốt, sắt thép… Qua đó, kịp thời đề xuất và triển khai các giải pháp phù hợp khi thị trường có dấu hiệu biến động.
Trong trường hợp phát sinh yếu tố bất thường, Tổ Điều hành thị trường trong nước sẽ tổ chức họp chuyên đề đột xuất để đánh giá tình hình và thống nhất biện pháp điều hành, bảo đảm không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, tăng giá đột biến hoặc tác động dây chuyền đến mặt bằng giá chung.
Về điều hành giá, theo phân công tại Luật Giá và các văn bản hướng dẫn, Bộ Công Thương phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong điều hành giá các mặt hàng quan trọng như điện và xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đồng thời, Bộ theo dõi sát diễn biến giá khí đốt, sắt thép và các vật tư đầu vào quan trọng khác để chủ động đề xuất biện pháp bình ổn khi cần thiết.
Thông qua cơ chế phối hợp liên ngành, công tác dự báo sát thực tiễn và điều hành linh hoạt, Bộ Công Thương góp phần kiểm soát tốt áp lực lạm phát chi phí đẩy, ổn định tâm lý thị trường, từ đó hỗ trợ duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, ngành Công Thương hướng tới tăng trưởng cao, với mục tiêu kim ngạch “nghìn tỷ” USD. Vậy đâu là giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu này trong bối cảnh hiện nay, thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân: Để hướng tới mục tiêu kim ngạch xuất nhập khẩu “nghìn tỷ” USD trong bối cảnh năm 2026 còn nhiều biến động, Bộ Công Thương xác định cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp phát triển thị trường, nâng cao năng lực nội tại của nền sản xuất và tận dụng hiệu quả các cam kết hội nhập, trên tinh thần chủ động, linh hoạt và quyết liệt.
Trước hết, cần tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất trong nước, tạo nguồn hàng có chất lượng cho xuất khẩu. Trong bối cảnh kinh tế thế giới đang dần phục hồi, lạm phát được kiểm soát và nhu cầu thị trường có xu hướng cải thiện, việc bảo đảm năng lực sản xuất, đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp, năng lượng, hạ tầng giao thông trọng điểm sẽ tạo dư địa lớn cho xuất khẩu. Đồng thời, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng tỷ lệ nội địa hóa và chủ động nguồn cung nguyên liệu sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị gia tăng, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và tăng sức cạnh tranh.
Thứ hai, đa dạng hóa và phát triển thị trường xuất khẩu theo hướng bền vững. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, xu hướng bảo hộ và các rào cản kỹ thuật ngày càng phức tạp, Việt Nam cần tiếp tục khai thác hiệu quả các thị trường trọng điểm như Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU; đồng thời mở rộng sang các thị trường tiềm năng khác. Song song đó là nâng cao năng lực cảnh báo sớm, chủ động ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại, chống gian lận xuất xứ để bảo vệ uy tín và lợi ích chính đáng của hàng hóa Việt Nam.
Thứ ba, theo dõi chặt chẽ diễn biến kinh tế - chính trị thế giới và chính sách thương mại của các đối tác lớn để kịp thời có khuyến nghị, biện pháp ứng phó phù hợp. Trong bối cảnh chính sách thuế quan của Hoa Kỳ có thể thay đổi, xung đột địa chính trị tại một số khu vực tiếp tục leo thang, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và biến động giá cả hàng hóa còn hiện hữu, Bộ Công Thương sẽ tăng cường công tác phân tích, dự báo, cập nhật thông tin thị trường; chủ động tham mưu Chính phủ các giải pháp điều hành linh hoạt; đồng thời khuyến nghị doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch sản xuất, thị trường và phương thức giao dịch phù hợp với từng kịch bản. Việc nâng cao năng lực cảnh báo sớm và phản ứng chính sách kịp thời sẽ là yếu tố then chốt để giảm thiểu rủi ro và giữ vững đà tăng trưởng.
Thứ tư, khai thác tối đa các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết. Việc thực thi đầy đủ, hiệu quả các cam kết, nội luật hóa kịp thời các quy định, nâng cao hiểu biết của doanh nghiệp về quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, cam kết thuế quan sẽ giúp tận dụng tốt hơn các ưu đãi. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, thúc đẩy đàm phán các FTA và thỏa thuận thương mại mới nhằm mở rộng không gian thị trường và tạo thêm động lực tăng trưởng dài hạn.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển thương mại điện tử và logistics. Xuất khẩu qua thương mại điện tử xuyên biên giới đang mở ra kênh phân phối mới, đặc biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cùng với đó, việc triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics giai đoạn mới, tăng cường thuận lợi hóa thương mại, đơn giản hóa thủ tục hành chính, ứng dụng số hóa trong quản lý cấp phép, xuất xứ… sẽ góp phần giảm chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ sáu, đổi mới công tác xúc tiến thương mại có trọng tâm, trọng điểm; thúc đẩy mạnh mẽ chương trình chuyển đổi số trong xúc tiến thương mại; phát huy vai trò của hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, thúc đẩy xuất khẩu vào các thị trường truyền thống, các thị trường mới còn nhiều tiềm năng.
Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu khoảng 15-16% trong năm 2026 đòi hỏi quyết tâm cao, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành và cộng đồng doanh nghiệp. Với tinh thần chủ động theo dõi sát diễn biến quốc tế, điều hành linh hoạt, nâng cao nội lực và tận dụng hiệu quả hội nhập, ngành Công Thương sẽ đồng hành cùng các địa phương, doanh nghiệp để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026 và giai đoạn tới.
Đã có những khó khăn bước đầu trong hoạt động xuất nhập khẩu, như về hoạt động vận tải, logistics trong giao thương quốc tế (huỷ chuyến bay hàng không, hàng hải…). Bộ Công Thương đã có động thái như thế nào để hỗ trợ các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng… (cũng như kế hoạch trong thời gian tới)?
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân: Để ứng phó và giảm thiểu tác động tiêu cực của tình hình căng thẳng giữa Mỹ, Israel và Iran đối với hoạt động vận tải hàng hóa liên quan đến doanh nghiệp Việt Nam, ngày 01 tháng 3 năm 2026, Bộ Công Thương có văn bản số 229/XNK-TLH đưa ra các khuyến cáo đối với các doanh nghiệp như sau:
Theo dõi sát sao diễn biến tình hình: Doanh nghiệp cần cập nhật thường xuyên tình hình chính trị - an ninh tại khu vực Trung Đông, đặc biệt là các thông tin từ Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương và các cơ quan truyền thông uy tín để có đánh giá kịp thời về rủi ro.
Rà soát hợp đồng: Kiểm tra lại các điều khoản trong hợp đồng xuất nhập khẩu, đặc biệt là các điều khoản về giá cước, thời gian giao hàng, bảo hiểm và điều khoản bất khả kháng để lường trước các tình huống phát sinh.
Đa dạng hóa thị trường và đối tác: Hạn chế phụ thuộc quá mức vào một thị trường hoặc một tuyến vận tải. Chủ động tìm kiếm các thị trường mới, các đối tác vận tải khác có lộ trình ít rủi ro hơn.
Dự phòng chuỗi cung ứng: Xây dựng kế hoạch dự phòng cho chuỗi cung ứng, bao gồm việc tìm kiếm các nhà cung cấp nguyên liệu thay thế và các tuyến vận chuyển khác để giảm thiểu tác động khi có gián đoạn.
Cân nhắc các giải pháp vận tải thay thế: Trong trường hợp khả thi, cần xem xét đến các phương thức vận tải khác như đường sắt liên vận quốc tế (đối với một số thị trường), hoặc kết hợp các phương thức vận tải để tối ưu hóa chi phí và thời gian.
Thường xuyên liên hệ với các đối tác nhập khẩu để thông báo về tình hình, cùng tìm kiếm giải pháp tối ưu.
Làm việc chặt chẽ với các hãng tàu, hãng hàng không, forwarder để nắm rõ thông tin về lộ trình, thời gian vận chuyển dự kiến và các phụ phí phát sinh.
Cân nhắc việc mua bảo hiểm hàng hóa với phạm vi bảo hiểm rộng hơn, bao gồm các rủi ro chiến tranh, khủng bố.
Đề phòng biến động tỷ giá hối đoái do tác động của giá dầu và tình hình kinh tế toàn cầu.
Khi gặp khó khăn hoặc cần thông tin hỗ trợ, doanh nghiệp có thể liên hệ trực tiếp với các đơn vị của Bộ Công Thương gồm: Cục Xuất nhập khẩu, Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, các Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài hoặc Đại sứ quán Việt Nam tại các khu vực liên quan để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.
Trong thời gian tới, Bộ Công Thương tiếp tục triển khai một số nhiệm vụ cụ thể sau:
Phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng (Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cục Hàng không Việt Nam), Bộ Ngoại giao (Vụ Trung Đông - Châu Phi), nghiên cứu, theo dõi, bám sát tình hình để tham mưu cho Lãnh đạo Bộ và báo cáo Thủ tướng Chính phủ đối với những vấn đề ngoài thẩm quyền của Bộ;
Phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics, Hiệp hội Chủ tàu, các doanh nghiệp logistics và hãng tàu có các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu trước tình hình giá cước tăng cao và thiếu container rỗng, đảm bảo không để xảy ra tình trạng khan hiếm, khó đặt chỗ trên tàu.
Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông và các cơ quan quản lý liên quan cập nhật kịp thời các thông tin, đăng tải khuyến cáo nhanh chóng và chuẩn xác đến cộng đồng doanh nghiệp.
- Thưa Thứ trưởng, 2 trong 3 “chân kiềng” tăng trưởng truyền thống, cùng với các động lực tăng trưởng mới do Bộ Công Thương quản lý, trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, Bộ nhìn nhận như thế nào về vai trò của thị trường trong nước cũng như sự chủ động nguồn nguyên liệu/nhiên liệu từ thị trường nội địa? Và đâu là các giải pháp trọng tâm của ngành Công Thương đối với “chân kiềng” này trong cả trước mắt và lâu dài?
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân: Trong bối cảnh kinh tế thế giới liên tục đối mặt với các cú sốc lớn như đại dịch Covid-19, xung đột Nga - Ukraine, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và gần đây là những bất ổn địa chính trị mới, thị trường trong nước đã khẳng định vai trò là “trụ cột ổn định” và là bệ đỡ quan trọng của nền kinh tế khi khu vực xuất khẩu gặp nhiều khó khăn.
Với quy mô hơn 100 triệu dân và đóng góp khoảng 62% vào tăng trưởng GDP hằng năm, thị trường nội địa không chỉ là dư địa phát triển lớn mà còn là động lực tăng trưởng chiến lược trong giai đoạn tới. Đồng thời, việc chủ động nguồn nguyên liệu, nhiên liệu từ thị trường trong nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nâng cao tính tự chủ, giảm thiểu rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững.
Từ nhận thức đó, Bộ Công Thương xác định phát triển thị trường trong nước là một trong những “chân kiềng” trọng tâm, với hệ thống giải pháp đồng bộ cả trước mắt và lâu dài.
Về trước mắt, Bộ tập trung kích cầu tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường và bảo đảm ổn định cung – cầu hàng hóa thiết yếu. Ngày 22/8/2025, Bộ đã ban hành Quyết định phê duyệt Chương trình phát triển thị trường trong nước giai đoạn 2025–2027, nhằm kích cầu tiêu dùng, phát triển thương mại hiện đại, bền vững và tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Mục tiêu là vừa thúc đẩy tiêu dùng nội địa, vừa xây dựng thương hiệu hàng Việt, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tạo nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô.
Bộ cũng chú trọng phát triển thương mại biên giới, đặc biệt với Campuchia, thông qua Đề án theo Quyết định số 2162/QĐ-BCT ngày 25/7/2025; phối hợp với Bộ Thương mại Campuchia và các địa phương như Tây Ninh, An Giang tổ chức các hội nghị kết nối doanh nghiệp sản xuất, phân phối và logistics Việt Nam – Campuchia, qua đó mở rộng không gian tiêu thụ hàng hóa Việt.
Đồng thời, Bộ đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị quyết về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và kích cầu tiêu dùng, giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương, bảo đảm triển khai thống nhất trên phạm vi cả nước.
Về lâu dài, Bộ tập trung hiện đại hóa hạ tầng thương mại và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế:
Tổ chức thực hiện hiệu quả Chiến lược phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050; phát triển hệ thống phân phối hiện đại kết hợp truyền thống, mở rộng chuỗi cửa hàng tiện lợi, trung tâm hàng Việt vùng miền, tạo điều kiện để hàng Việt tham gia sâu hơn vào các chuỗi bán lẻ.
Nâng cấp chợ truyền thống, bảo đảm an toàn vệ sinh và phòng cháy chữa cháy; ứng dụng công nghệ số, kết hợp mô hình bán lẻ hiện đại trong các chợ quy mô lớn.
Triển khai Chiến lược phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2025–2035, phát triển trung tâm logistics vùng, tăng liên kết chuỗi cung ứng, ứng dụng AI, blockchain, IoT và phân tích dữ liệu lớn để tối ưu hóa vận hành.
Thúc đẩy thương mại điện tử, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất đưa sản phẩm lên nền tảng số; xây dựng “Gian hàng Việt chuẩn số”; đào tạo kỹ năng số, phấn đấu tăng trưởng TMĐT năm 2025 đạt trên 25,5%.
Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng, chính sách thuế phí phù hợp với cam kết quốc tế; ưu tiên doanh nghiệp có tỷ lệ nội địa hóa cao, sản phẩm truy xuất nguồn gốc rõ ràng, đạt chuẩn xanh và ESG; khuyến khích doanh nghiệp bán lẻ mở rộng mạng lưới về nông thôn, miền núi, hải đảo.
Tổ chức các chương trình khuyến mại tập trung, hội chợ, triển lãm, “Tháng hàng Việt”, tuần lễ hàng Việt – OCOP; đẩy mạnh hội chợ xanh nhằm thúc đẩy tiêu dùng bền vững.
Triển khai Không gian trưng bày, livestream Sức sống hàng Việt tại 62 Tràng Tiền, Phường Hoàn Kiếm, Hà Nội nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam giới thiệu, quảng bá và bán các sản phẩm 100% Made in VietNam trên nền tảng thương mại điện tử và trực tiếp tại Phố hàng hiệu Tràng Tiền.
Theo dõi sát diễn biến thị trường, chủ động phương án bình ổn giá hàng thiết yếu; tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái, nhất là với các mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.
Có thể khẳng định, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, thị trường trong nước không chỉ là “chân kiềng” ổn định tăng trưởng mà còn là nền tảng để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Phát triển mạnh mẽ thị trường nội địa, chủ động nguồn nguyên liệu và củng cố hệ thống phân phối hiện đại chính là giải pháp căn cơ để Việt Nam duy trì đà tăng trưởng bền vững trong cả ngắn hạn và dài hạn./.
Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!